Từ Đường Chi Lê Tộc Địa chỉ: Làng Phấn Thôn, xã Xuân Hòa, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam (trước đây thuộc làng Phấn Thôn, xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa). Từ Đường Chi Lê Tộc là nơi thờ phụng gia tiên, tưởng niệm công đức tổ tiên và là chốn linh thiêng để con cháu trở về đoàn viên trong các dịp giỗ, lễ, Tết. Nơi đây gìn giữ truyền thống đạo hiếu, gắn kết tình tộc họ và hun đúc tinh thần hướng về cội nguồn của các thế hệ con cháu Lê tộc.
| # | Ngày | Loại | Số tiền | Nội dung | Người nộp / nhận | Đợt công đức | Chứng từ |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 28/09/2026 | Thu | +5.000.000 đ | Công đức hoàn thiện mộ chí (chuyển khoản Agribank → TPBank, MGD 143732984) | Gia đình chú Nguyễn Đình Tuân – cô Lê Thanh Tâm | Công đức hoàn thiện mộ chí chi Lê tộc – 2026 | MGD 143732984 |
| 2 | 28/09/2026 | Thu | +2.000.000 đ | Góp lễ giỗ gia tiên (cùng lần chuyển khoản MGD 143732984) | Gia đình chú Nguyễn Đình Tuân – cô Lê Thanh Tâm | MGD 143732984 | |
| 3 | 28/09/2026 | Thu | +5.000.000 đ | Công đức hoàn thiện mộ chí | Gia đình cháu Lê Kim Cương – Nguyễn Thị Huyền Trang | Công đức hoàn thiện mộ chí chi Lê tộc – 2026 | |
| 4 | 05/09/2026 | Thu | +1.000.000 đ | Công đức tiền để sử dụng cho phục dựng, in ấn, đóng khung 5 di ảnh cụ Lê Sỹ Nhiếp | Lê Kim Cương | ||
| 5 | 05/09/2026 | Chi | −1.000.000 đ | Chi phục dựng (AI), in ấn, đóng khung 5 di ảnh cụ Lê Sỹ Nhiếp – nhập kho hiện vật | Lê Kim Cương | ||
| TỔNG | +13.000.000 đ / −1.000.000 đ | Tồn quỹ tiền: 12.000.000 đ |
| # | Hiện vật | SL | Giá trị ước tính | Nguồn | Người cung tiến / thực hiện | Ngày tiếp nhận | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Bộ hồ sơ khen thưởng Huy chương Kháng chiến chống Pháp của cụ Lê Sỹ Nhiếp | 5 văn bản | 0 đ | Cung tiến | Lê Kim Cương | 28/09/2026 | Gồm: (1) Tờ trình số 145/VP-TĐ ngày 12/05/1962 của Ủy ban Hành chính tỉnh Thanh Hóa; (2) Quyết định số 92/CP ngày 25/08/1962 về việc tặng thưởng Huân chương, Huy chương Kháng chiến; (3) Danh sách cá nhân được đề nghị khen thưởng kháng chiến ngày 25/08/1962; (4) Giấy xác nhận của Hội đồng Nhà nước tặng Huy chương Kháng chiến hạng Nhất, số vào Sổ Vàng 6936, ngày 25/08/1962; (5) Giấy xác nhận số 556/XN-BTĐKT ngày 15/10/2007 của Ban Thi đua – Khen thưởng tỉnh Thanh Hóa. Đã phục dựng, đóng khung, cung tiến vào Nhà thờ Từ đường chi Lê tộc. Tư liệu lịch sử vô giá, không định giá. |
| 2 | Bộ di ảnh cụ Lê Sỹ Nhiếp phục dựng qua các năm 1943, 1945, 1954, 1962, 1979 | 5 bức | 1.000.000 đ | Mua từ quỹ | Quỹ từ đường (Lê Kim Cương thực hiện) | 28/09/2026 | Phục dựng bằng công nghệ AI từ bức tranh truyền thần duy nhất gia đình còn giữ; thể hiện cụ thời trẻ, trung niên và khi trưởng lão. In ấn, đóng khung, cung tiến vào Nhà thờ Từ đường chi Lê tộc để song hành cùng bức ảnh gốc phụng thờ Tiên tổ. Giá trị 1.000.000 đ (200.000 đ/bức) = chi phí phục dựng đã chi từ quỹ ngày 05/09/2026. |
| TỔNG | 1.000.000 đ | Trong đó cung tiến 0 đ, mua từ quỹ 1.000.000 đ |
| # | Đợt công đức | Mục tiêu | Đã thu | Tiến độ | Thời gian | Trạng thái |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Công đức hoàn thiện mộ chí chi Lê tộc – 2026 Lễ động thổ – quy hồn nhập mộ 12/12/2026 (4/11 ÂL). Thủ quỹ: Lê Ngọc Cẩm. TK nhận: 83012356789 TPBank – Lê Kim Cương. |
— | 10.000.000 đ | — | 28/09/2026 – 31/12/2026 | Đang mở |
| TỔNG | 10.000.000 đ |
| # | Gia đình / cá nhân | Tiền | Hiện vật cung tiến | Tổng | Số lần |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Gia đình chú Nguyễn Đình Tuân – cô Lê Thanh Tâm | 7.000.000 đ | — | 7.000.000 đ | 2 |
| 2 | Gia đình cháu Lê Kim Cương – Nguyễn Thị Huyền Trang | 5.000.000 đ | — | 5.000.000 đ | 1 |
| 3 | Lê Kim Cương | 1.000.000 đ | — | 1.000.000 đ | 2 |
| TỔNG | 13.000.000 đ | 0 đ | 13.000.000 đ | 5 |
Để lại email để nhận nhắc lịch giỗ, lễ, họp họ của chi Lê tộc — ban quản trị sẽ gửi trước 15 ngày.
Phả ký là phần ghi chép tổng hợp về lịch sử, cội nguồn và quá trình phát triển của chi Lê tộc. Nội dung dưới đây do con cháu trong chi biên soạn, sẽ tiếp tục được bổ sung.
Chi Lê tộc khởi nguồn từ Ky ông Lê Văn Khiêu, người từ vùng biển Quảng Cư lên lập nghiệp tại làng Phấn Thôn, xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân (nay là xã Xuân Hòa), tỉnh Thanh Hóa. Đến nay chi đã trải qua năm đời với 49 thành viên.
Nơi đầu sóng ngọn gió vùng biển Quảng Cư - xứ Thanh, trời thường đậm nắng, gió thường mặn, cát trắng trải dài như tấm phên lớn của tạo hóa, hứng trọn tiếng biển đêm ngày không dứt. Vùng đất ấy tự bao đời hun đúc nên khí chất của người dân chài: thẳng thắn, bền gan, chịu thương chịu khó, lại phóng khoáng mà nghĩa tình. Trong mạch nguồn ấy, Ky ông Lê Văn Khiêu sinh trưởng, lớn lên, kết tinh phong vị "mặn mà như nước biển, rắn rỏi như đá ghềnh", để rồi trở thành bậc tiền nhân mà con cháu đời sau nghiêng mình kính nhớ.
Cụ là Trưởng chi Lê tộc - người đứng mũi chịu sào, giữ gìn tôn ti trật tự trong họ, vun đắp phúc ấm, đặt nền móng cho một chi họ vững bền nơi vùng đất mới. Đời người có khi được nhớ bởi của cải để lại, nhưng có những bậc được lưu danh bởi đức độ, uy tín và nếp gia phong. Cụ Ky Lê Văn Khiêu thuộc về hàng ấy: sống giữa dân mà dân quý, đứng trong họ mà họ nể, làm việc nghĩa mà lòng người thuận.
Sinh ra ở miền biển, nhưng vận mệnh và chí hướng của cụ không chỉ gói trong vòng chân sóng. Có thời, cụ đã rời miền biển, dứt một nếp sinh nhai quen thuộc để lên vùng trung du lập nghiệp tại xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân (địa danh cũ), nay thuộc xã Xuân Hòa. Đó không chỉ là một cuộc chuyển cư của một gia đình, mà là một hành trình đổi vận, một quyết định "lập thân" bằng đôi tay và ý chí.
Đường từ biển lên đồng không phải chuyện một sớm một chiều. Rời tiếng gió rào rạt trên mặt nước, rời mùi mặn thấm áo, cụ bước vào miền đất có nhịp sống khác: ruộng đồng, bờ bãi, rặng tre và những nẻo đường đất đỏ. Thuở ban đầu, chắc hẳn khó khăn trăm bề: đất đai chưa quen, người chưa thân, nếp sống chưa hợp, tất cả đều phải gây dựng từ đầu. Nhưng chính ở những lúc "cơ hàn thử chí", bản lĩnh của người miền biển lại càng sáng rõ: kiên cường, nhẫn nại, không ngại gian lao.
Vùng Thọ Hải khi ấy được xem là "đất lành chim đậu": có phần trù phú, nhưng cũng cần bàn tay khai phá, cần người biết lo toan, biết dựng nên nếp ăn nếp ở đời sống cộng cư yên ổn. Và cụ đã chọn nơi ấy làm chốn gửi gắm cả đời, chọn nơi ấy để gieo rễ cho một chi họ Lê, mở lối cho con cháu sau này có một miền quê để nhớ, một cội nguồn để tìm.
Đến đất mới, cụ không chỉ dựng nghiệp mà còn dựng gia đạo. Cụ kết hôn với cụ bà Nguyễn Thị Lệnh, người làng Phấn thôn, xã Thọ Hải - một người con gái trung du nết na, hiền hậu. Mối lương duyên ấy như sự hòa quyện giữa hai miền: chàng trai miền biển mang phong vị rắn rỏi, thẳng ngay; cô gái miền trung du giữ nếp dịu dàng, nền nã. Hai người nên nghĩa vợ chồng, dựng mái nhà mà từ đó gia phong được hun đúc, phúc ấm được gây dựng.
Nhưng điều làm rạng danh cụ Ky trong ký ức xóm làng chỉ ở việc tề gia, mà còn ở thế và phẩm hạnh giữa cộng đồng. Cụ sống đức độ, được dân làng kính nể và tín nhiệm, bầu giữ chức ông "Đoàn Khiêu".
Danh xưng ấy, nghe mộc mạc mà hàm chứa trọng trách lớn lao. Ông Đoàn xưa vốn là người đảm đương trật tự an, lo giữ yên nề nếp trong thôn xã; xét theo vai trò, có thể ví như Trưởng Công an xã ngày nay. Chức trách ấy không dành cho người nóng nảy, càng không dành cho kẻ thiên vị; nó đòi hỏi uy nghiêm để răn điều trái, chính trực để giữ công bằng, nhân hậu để cảm hóa lòng người.
Người dân trao cho cụ trọng trách ấy, chính là trao niềm tin. Bởi cụ không lấy quyền để lấn át, không dùng thế để cầu lợi. Cụ làm "ông Đoàn" mà giữ làng yên, để đêm không tơ trộm cắp, để trong ngoài bớt chuyện xô xát; gặp việc tranh chấp thì phân xử theo lẽ phải, trong tình nhưng không bỏ luật tục, thấu đáo mà không hà khắc. Trong chốn làng quê xưa - nơi tiếng tốt tiếng xấu lan nhanh như gió - giữ được lòng dân kính phục là điều không dễ. Vậy mà cụ được gọi bằng danh xưng gắn liền tên mình: "Đoàn Khiêu" - như một dấu ấn của uy tín, như tấm bia miệng dân làng khắc ghi suốt một thời.
Trong mái ấm của cụ Ky Lê Văn Khiêu và cụ bà Nguyễn Thị Lệnh, Trời Phật ban cho hai người con trai: ông Lê Sỹ Nhiếp và ông Lê Đình Tháp. Hai bậc hậu duệ ấy như hai trụ cột nâng đỡ nếp nhà, tiếp nối dòng dõi, để chi họ Lê nơi vùng đất Thọ Hải - Xuân Hòa ngày càng vững vàng.
Người xưa thường nói: "Dạy con từ thuở còn thơ". Cụ ông cụ bà không chỉ sinh thành mà còn dưỡng dục. Sự giáo dục ấy vừa nghiêm khắc để rèn nề nếp, vừa nhân từ để giữ lòng thiện. Nghiêm mà không lạnh, thương mà không chiều; lấy lễ nghĩa làm gốc, lấy lao động làm đường, lấy đạo lý làm thước. Nhờ vậy mà con cháu sau này biết kính trên nhường dưới, biết trọng chữ tín, biết sống sao cho xứng đáng với phúc ấm tổ tiên.
Di sản của cụ Ky vì thế không chỉ là một chỗ ở, một ruộng vườn, hay một dấu ấn chức danh trong làng xã, mà là một nếp nhà: nếp ngay thẳng, nếp nghĩa tình, nếp sống có trước có sau. Đó mới là của cải dành bền nhất, truyền được lâu nhất.
Nghĩ về sinh thời của Ky ông Lê Văn Khiêu, con cháu thấy rõ một đời người đi qua gió biển mà không lạc hướng, bước lên trung du mà không ngại khó; lập nghiệp bằng đôi tay, lập thân bằng đạo đức; sống giữa cộng đồng bằng uy tín, làm Trưởng chi bằng lòng tận tụy. Cụ như ngọn đèn dầu trong nhà xưa: ánh không chói lòa, nhưng đủ bền, soi cho người sau biết đường mà bước.
Hôm nay ghi lại những dòng này, không phải để phô trương, mà để tưởng niệm và tri ân. Để con cháu đời sau khi đọc đến tên cụ, biết rằng nguồn cội của mình đã từng có một bậc tiền nhân:
Từ biển mà lên nguồn, dám đổi thay để dựng tương lai.
Từ gian khó mà thành nếp, lấy đức làm gốc, lấy nghĩa làm đầu.
Từ một người mà thành một chi, truyền phúc ấm bằng gia phong, truyền danh thơm bằng uy tín.
Nguyện rằng con cháu họ Lê đời đời ghi nhớ:
Giữ gìn gia phong như giữ lửa trong nhà; kính tổ tiên như kính gốc rễ của mình; sống ngay thẳng để không thẹn với người xưa; làm điều thiện để phúc ấm thêm dày.
Xin cúi đầu tưởng vọng.
Phúc đức lưu truyền, hậu thế trường tồn.
(Sinh năm 19xx – Mất ngày 16 tháng 7 năm 1979 âm lịch)
Ông Lê Sỹ Nhiếp sinh ra và lớn lên tại làng Công Thành, xã Thọ Hải (cũ), tỉnh Thanh Hóa, trong một gia đình nề nếp, giàu truyền thống lao động và yêu nước. Ông là trưởng nam của ông ky Lê Văn Khiêu và bà ky Nguyễn Thị Lệnh, có một người em trai là ông Lê Đình Tháp, lập nghiệp và mất tại Hà Nội.
Thuở nhỏ, ông Nhiếp nổi tiếng là người chăm chỉ, nhanh nhẹn và có chí lập thân. Năm 20 tuổi, ông kết hôn với bà Lê Thị Hảo người làng Phấn Thôn, xã Thọ Hải (cũ). Sau ngày thành hôn, hai ông bà hiến đất cho nhà chùa, rời ngôi nhà cũ trong làng, chuyển ra đầu ngã ba giao đường tỉnh lộ và chợ Hương để lập nghiệp – một quyết định táo bạo và khác thường vào thời điểm bấy giờ, thể hiện tư duy đổi mới, tinh thần tự lập và mong muốn mở mang kinh tế gắn với sự phát triển của cộng đồng địa phương.
Trong nửa sau thế kỷ XX, đất nước trải qua nhiều biến động lịch sử: từ thời kỳ đô hộ của thực dân Pháp (bắt đầu từ năm 1858), đến kháng chiến chống Pháp (1946–1954), rồi kháng chiến chống Mỹ khi Hoa Kỳ can dự quân sự từ cuối thập niên 1940 và leo thang thành chiến tranh quy mô lớn trong thập niên 1960. Trong bối cảnh đó, Thanh Hóa là một trong những hậu phương chiến lược của cả nước, đảm nhiệm vai trò tiếp tế, hậu cần và bảo vệ vùng an toàn chiến lược.
Ông Lê Sỹ Nhiếp được biết đến là người gương mẫu, nhiệt huyết trong các phong trào hậu phương. Gia đình ông chăn nuôi lợn, gà và trồng lúa để đóng góp lương thực, vận chuyển lên Điện Biên Phủ; ông còn trực tiếp vận động, tổ chức và điều phối các đợt quyên góp trong làng, góp phần phục vụ kháng chiến, giải phóng đất nước khỏi ách thống trị của ngoại bang. Với tinh thần trách nhiệm và uy tín trong nhân dân, ông được bầu giữ chức Xã đội trưởng Thọ Hải và phụ trách liên xã khu vực lân cận, đảm nhiệm cả công tác an ninh, vận động nhân dân và hậu cần trong thời chiến.
Hình ảnh ông Lê Sỹ Nhiếp gắn liền với tinh thần tận tụy, nghĩa khí và lòng yêu nước chân thành của người dân Thanh Hóa trong những năm tháng gian lao của dân tộc.
Ông bà sinh được bảy người con, gồm bốn trai và ba gái: Hoa, Hồng (sau đổi tên là Hùng), Hà, Chung, Tâm, Thành và Công. Người con gái đầu mất sớm; sáu người con còn lại đều trưởng thành, lập nghiệp và có con cháu đông đúc.
Vào mùa hè năm Kỷ Mùi (1979), ông không may bị cảm lạnh, qua đời ngày 16 tháng 7 năm 1979 âm lịch. Khi ấy, con trai cả là ông Lê Sỹ Hùng (Hồng) đang công tác tại Hồng Gai – Quảng Ninh, không kịp trở về chịu tang cha.
Sự ra đi của ông là mất mát lớn lao đối với gia đình và bà con trong vùng. Trong ký ức người dân Thọ Hải, ông luôn được nhớ đến là người nông dân trung hậu, gương mẫu, hết lòng vì quê hương và gia đình, tiêu biểu cho thế hệ nông dân Thanh Hóa kiên cường trong những năm tháng đất nước chiến tranh.
Cuộc đời ông tuy giản dị nhưng để lại những giá trị quý báu:
Tư tưởng đổi mới, dám nghĩ dám làm.
Tinh thần trách nhiệm với cộng đồng và quê hương.
Tình thương và đức hy sinh, là nền tảng cho các thế hệ con cháu chi Lê tộc hôm nay.
Ngày nay, con cháu Chi Lê tộc và người dân địa phương luôn tưởng nhớ ông với lòng biết ơn và niềm tự hào, xem ông là tấm gương sáng về nhân cách, nghĩa tình và tinh thần cống hiến trong thời kỳ đất nước gian khó mà anh dũng.
Ngôi nhà nơi hai ông bà từng sinh sống sau này được con cháu duy tu, tôn tạo thành khu thờ tự linh thiêng – chính là Từ đường Chi Lê tộc hôm nay.
Kính gửi các ông bà, cô chú, anh chị em và các cháu trong đại gia đình chi Lê tộc. Bài này tổng hợp quyết định của gia đình, ngày tổ chức đã thống nhất, chương trình lễ, phân công, kế hoạch thi công và công đức để con cháu gần xa cùng nắm bắt và chung tay triển khai. Bản Word đầy đủ (có lễ vật, văn khấn và biểu mẫu) được gửi trong nhóm Zalo đại gia đình.
| Nội dung | Chi tiết (theo trao đổi trong gia đình ngày 26/09/2026) |
|---|---|
| Kế hoạch ban đầu | Chú Lê Đình Chung dự định sau khi nghỉ hưu sẽ đưa cốt bà cố từ Đắk Nông về Thanh Hóa, quy tập cùng ông cố. |
| Hoàn cảnh hiện nay | Chú Chung đang ốm, chưa thể thực hiện. Chú Thành và chú Công bày tỏ nguyện vọng giữ bà ở lại Đắk Nông – quê hương thứ hai của các chú – để sau này được quây quần bên mẹ. |
| Quyết định | Dù năm Bính Ngọ 2026 được tuổi, không phạm, gia đình quyết định không đưa cốt bà cố về Thanh Hóa nữa. |
| Việc sẽ làm | Gia đình anh cả (bác Hùng – bác Dung) hoàn thiện trước phần trên ngôi mộ bà cố – quách và bia tại khu mộ chí chi Lê tộc ở Thanh Hóa, bên cạnh ông cố và ông bà kỵ (ba ngôi này đã lắp quách, bia đầy đủ); tổ chức thành một buổi lễ bài bản: cỗ tại từ đường, mời thầy cúng, lễ động thổ, quy hồn nhập mộ và rước cành phan. |
| Việc để sau | Việc đặt cốt bà cố vào mộ sẽ do các cô chú thực hiện và ghép vào sau này, khi gia đình có điều kiện và thống nhất. Quách của bà để nắp rời, mặt mộ lát tấm rời – sau này ghép không phải đập phá. |
| Hiện trạng chuẩn bị | Khảo sát đã xong; bia đá và quách của bà cố đã chế tác xong, sẵn sàng; tiểu đã đặt tại vị trí (chưa có cốt). Ba ngôi ông bà kỵ, ông cố đã hoàn thiện, không làm gì thêm – chỉ dâng hương trong lễ. Việc còn lại là thi công lắp đặt ngôi bà cố và tổ chức nghi lễ. |
| Ý nghĩa | Khu mộ chí của chi họ được hoàn thiện trọn vẹn; bà cố tuy phần mộ chính ở Đắk Nông vẫn có “ngôi nhà” ở quê bên cạnh ông cố để con cháu hương khói mỗi dịp giỗ, Tết, Thanh minh. Tận dụng năm được tuổi để hoàn thành việc lớn của chi họ. |
| Đời | Danh xưng | Họ tên | Sinh – mất | Giỗ (ÂL) | Hiện trạng & việc lần này |
|---|---|---|---|---|---|
| I | Ông kỵ – Trưởng chi Lê tộc | Lê Văn Khiêu | Không xác định | 14/4 | Đã hoàn thiện quách, bia – không làm thêm; dâng hương trong lễ |
| I | Bà kỵ | Nguyễn Thị Lênh | Không xác định | 05/11 | Đã hoàn thiện quách, bia – không làm thêm; dâng hương trong lễ |
| II | Ông cố – Xã đội trưởng Thọ Hải | Lê Sỹ Nhiếp | 191x – 1979 (Kỷ Mùi) | 16/7 | Đã hoàn thiện quách, bia – không làm thêm; dâng hương trong lễ |
| II | Bà cố | Lê Thị Hảo | 1928 (Mậu Thìn) – 2007 (Đinh Hợi); DL 05/06/1928 – 26/10/2007; hưởng thọ 80 tuổi | 16/9 | LÀM LẦN NÀY: tiểu đã đặt, chưa có cốt (mộ vọng); lắp quách nắp rời + dựng bia (đã chế tác); lễ động thổ, quy hồn nhập mộ; ghép cốt sau |
Năm sinh – năm mất của ông bà kỵ hiện chưa xác định được (đại gia đình chưa tìm được thông tin chính xác); gia phả ghi “không xác định”, giữ ngày giỗ. Con cháu nào có tư liệu xin gửi cho Cương để bổ sung.
| Việc | Dương lịch | Âm lịch | Ngày | Đánh giá theo lịch vạn niên | Giờ tốt buổi sáng |
|---|---|---|---|---|---|
| Lễ chính: động thổ + quy hồn nhập mộ + rước cành phan; khởi công | Thứ Bảy 12/12/2026 | 4/11 Bính Ngọ | Canh Thân | Thanh Long hoàng đạo; trực Thành (tốt cho khởi tạo, động thổ, an táng); sao Thiên Đức Hợp, Tam Hợp, Đại Hồng Sa, Hoàng Ân; không phạm Tam nương, Nguyệt kỵ; ngày Thân tam hợp Thân – Tý – Thìn với tuổi bác Hùng, bác Dung, cháu Cương và bà cố. | Thìn (7–9h), Tỵ (9–11h) |
| Thi công lắp đặt | 12 – 19/12/2026 (dự phòng đến 22/12) | 4/11 – 11/11 | — | Bắt đầu ngay sau lễ trong giờ tốt; các mốc quan trọng (đậy nắp quách, dựng bia) tránh 13/12 (Nguyệt kỵ) và 14/12 (ngày Tuất, xung tuổi Thìn). | — |
| Lễ tạ mộ sau hoàn thành (đề xuất) | Thứ Năm 24/12/2026 | 16/11 Bính Ngọ | Nhâm Thân | Thanh Long hoàng đạo; trực Thành; sao Thiên Đức Hợp, Nguyệt Đức, Tam Hợp, Đại Hồng Sa, Hoàng Ân; ngày Thân tam hợp tuổi gia đình. | Thìn (7–9h), Tỵ (9–11h) |
| Tạ mộ – phương án khác | Thứ Ba 05/01/2027 hoặc gộp chạp mộ tháng Chạp | 28/11 Bính Ngọ / tháng 12 ÂL | Giáp Thân / — | Dùng nếu thi công chậm hoặc muốn con cháu về đông hơn; thầy chọn ngày. | — |
Ngày giờ tham khảo lịch vạn niên (xemlicham.com); gia đình chốt giờ hành lễ cùng thầy. Lịch giỗ liên quan: giỗ bà cố 25/10/2026 (16/9 ÂL) – dịp cáo yết gia tiên và chốt phân công; giỗ bà kỵ 13/12/2026 (5/11 ÂL).
| Giờ | Nội dung | Địa điểm |
|---|---|---|
| 06:30 – 07:00 | Con cháu tập trung; sắp mâm gia tiên; chuẩn bị cành phan, bài vị bà cố; thợ tập kết dụng cụ tại mộ. | Từ đường |
| 07:00 – 07:40 | Lễ cáo yết gia tiên (giờ Thìn): thầy làm lễ, bác Hùng đứng khấn, con cháu dâng hương theo thứ bậc. | Từ đường |
| 07:40 – 08:00 | Rước cành phan và bài vị ra khu mộ: thầy đi trước → cành phan → bài vị/bát hương (bác Hùng) → con cháu theo thứ bậc; đi chậm, trang nghiêm. | Đường ra mộ |
| 08:00 – 08:30 | Lễ động thổ – xin phép hoàn thiện mộ bà cố: mâm Thần linh; khấn xin Thổ công, Long mạch; bác Hùng cuốc tượng trưng 5 nhát tại ngôi bà cố; rải gạo muối, rưới rượu quanh khu mộ. | Khu mộ |
| 08:30 – 09:30 | Lễ quy hồn nhập mộ cho bà cố: thầy làm phép, đặt linh vị vào tiểu/quách; khởi công – thợ đặt nắp quách/viên đá đầu tiên trong giờ tốt; con cháu thắp hương cả 4 ngôi (ông bà kỵ, ông cố, bà cố). Chú Thành, chú Công thắp hương tại mộ bà ở Đắk Nông cùng giờ. | Khu mộ |
| 09:30 – 10:00 | Hóa vàng mã; rước cành phan về từ đường; lễ an vị – yết cáo (giờ Tỵ). | Từ đường |
| 10:00 – 10:30 | Bác Hùng phát biểu; đại diện các nhánh phát biểu; cảm ơn thầy, thợ, làng xóm. | Từ đường |
| 10:30 – 12:30 | Thụ lộc – cỗ tại từ đường. Chiều: thợ tiếp tục thi công. | Từ đường |
| 14:00 – 15:30 | Họp mặt: công đức, việc ghép cốt bà cố sau này, chuẩn bị giỗ bà kỵ ngày mai; chụp ảnh lưu niệm. | Từ đường |
| CN 13/12 | Giỗ bà kỵ Nguyễn Thị Lênh (5/11 ÂL). | Từ đường |
Ba ngôi ông bà kỵ, ông cố đã hoàn thiện – không đụng tới, chỉ che chắn bảo vệ trong lúc thi công. Ngôi bà cố làm đồng bộ kiểu dáng, cao độ, trục với ba ngôi bên cạnh.
| Ngày | Việc |
|---|---|
| Trước 05/12 | Đối chiếu kích thước quách với lọt lòng huyệt và tiểu hiện có; kiểm tra bia; tập kết vật tư phụ (gạch, cát, xi măng, tấm đan rời, keo, chống thấm); che chắn ba ngôi bên cạnh; báo trưởng thôn, ban quản trang, UBND xã. |
| 12/12 | Lễ động thổ, quy hồn nhập mộ (sáng); dọn mặt bằng, chỉnh cốt nền (chiều) – không đào sâu, không xê dịch tiểu. |
| 13 – 14/12 | Chỉ làm việc phụ (tập kết, kê kích, vệ sinh) – 13/12 là giỗ bà kỵ và ngày Nguyệt kỵ; 14/12 là ngày Tuất, xung tuổi Thìn. |
| 15 – 16/12 | Đặt quách chụp tiểu, đặt nắp khô, không trát vữa; chèn khe bằng vật liệu rời. |
| 16 – 17/12 | Xây bó, hoàn thiện thân mộ, chống thấm; giữ diện tích ≤ 3 m² theo Nghị định 23/2016/NĐ-CP; thẳng trục, cùng cao độ với ba ngôi bên cạnh. |
| 18 – 19/12 | Lát mặt (tấm đan rời + mặt lát có thể nhấc), dựng bia cùng hàng với ba bia đã có; hoàn thiện, vệ sinh, nghiệm thu, chụp ảnh. Dự phòng thời tiết đến 22/12. |
| 24/12 (dự kiến) | Lễ tạ mộ, an vị bia – bác Hùng chủ lễ cùng con cháu ở quê; báo cáo gia tiên tại từ đường. |
Gia đình sẽ đăng ảnh tiến độ hằng ngày trong nhóm Zalo và mục Sự kiện của web.
Đây là đề xuất để cả nhà bàn; ai bận hoặc sức khỏe không cho phép thì cử người trong nhánh thay. Chú Chung đang ốm nên không phân việc – kính chúc chú mau khỏe.
| Vai trò | Người đảm nhiệm | Nhiệm vụ chính |
|---|---|---|
| Chủ trì – chủ lễ | Bác Lê Sỹ Hùng – bác Nguyễn Thị Dung | Quyết định cuối; chủ lễ động thổ, quy hồn nhập mộ, tạ mộ; chốt thầy; làm việc với địa phương. |
| Điều phối – truyền thông | Lê Kim Cương | Kế hoạch, tiến độ; thông tin nhóm Zalo/Facebook, web; nhận chuyển khoản công đức (tài khoản TPBank) và gửi sao kê cho thủ quỹ; ghi chép, ảnh; rước cành phan (nếu thầy và gia đình thống nhất). |
| Thủ quỹ – sổ công đức | Lê Ngọc Cẩm | Ghi sổ công đức (tiền mặt tại lễ + chuyển khoản theo sao kê); theo dõi thu – chi, giữ hóa đơn; lập bảng công khai sau lễ tạ mộ. |
| Giám sát thi công | Bác Hùng + Cương (hỗ trợ: Lê Cao Cường, Lê Thái Sơn nếu thu xếp được) | Chốt đội thợ, lịch 12–19/12; kiểm tra bia, quách của bà cố; tập kết vật tư; giám sát hằng ngày, nghiệm thu. |
| Nghi lễ – lễ vật | Bác Dung + cô Lê Thị Hà, cô Lê Thanh Tâm | Làm việc với thầy về lễ vật, bài vị, cành phan, đồ mã cho 2 lễ; sắm lễ, sắp mâm. |
| Hậu cần – cỗ | Các thím, các con dâu (đầu mối: bác Dung) | Chốt số mâm theo đăng ký; đặt cỗ hoặc tự nấu; bàn ghế, nước uống; dọn dẹp. |
| Đại diện Đắk Nông | Chú Lê Đình Thành, chú Lê Đình Công | Xác nhận phương án quy hồn nhập mộ; cung cấp thông tin phần mộ bà tại Đắk Nông cho thầy; thắp hương cùng giờ; về dự hoặc dự trực tuyến. |
| Đón tiếp – lễ tân | Đời IV, V: Mai Văn Hương, Mai Ninh, Nguyễn Thị Phương Thanh, Nguyễn Đình Hải… | Đón khách, chỗ ngồi, đỗ xe; hỗ trợ người già, trẻ nhỏ khi ra mộ. |
| Liên hệ địa phương | Bác Hùng (hoặc người ở quê) | Báo trưởng thôn, ban quản trang, UBND xã Xuân Hòa về lịch thi công; mời họ hàng, làng xóm. |
| Thời gian | Công việc | Phụ trách |
|---|---|---|
| 28/9 | Thông báo kế hoạch; mở đăng ký tham dự. | Cương |
| 29/9 – 25/10 | Chốt thầy cúng; thầy xem giờ hành lễ, lễ vật, bài vị, cành phan; chú Thành, chú Công gửi thông tin phần mộ bà tại Đắk Nông. | Bác Hùng, bác Dung |
| CN 25/10 (16/9 ÂL) | Giỗ bà cố: cáo yết gia tiên về kế hoạch; họp mặt chốt phân công, số mâm sơ bộ. | Cả họ |
| 26/10 – 30/11 | Chốt đội thợ và lịch; kiểm tra bia, quách của bà cố; tập kết vật tư phụ; báo địa phương. | Bác Hùng, Cương |
| đến 20/11 | Chốt danh sách con cháu về dự; số mâm; chỗ nghỉ, xe đưa đón. | Cương, bác Dung |
| 01 – 11/12 | Sắm lễ vật, đồ mã, cành phan, linh vị; đặt cỗ; dọn từ đường, khu mộ; nhắc lịch (05/12, 11/12). | Bác Dung, các cô, các thím |
| T7 12/12 (4/11 ÂL) | LỄ CHÍNH + KHỞI CÔNG – theo chương trình mục 4. | Cả họ; thợ |
| CN 13/12 (5/11 ÂL) | Giỗ bà kỵ Nguyễn Thị Lênh; họp mặt công đức, việc ghép cốt sau này. | Cả họ |
| 12 – 19/12 | Thi công lắp đặt, hoàn thiện ngôi bà cố; nghiệm thu (dự phòng đến 22/12). | Thợ; bác Hùng, Cương giám sát |
| T5 24/12 (16/11 ÂL) | Lễ tạ mộ, an vị bia; dâng hương cả 4 ngôi (dự kiến). | Bác Hùng + con cháu ở quê |
| 25 – 31/12 | Công khai thu – chi, sổ công đức; đăng album ảnh, bài tổng thuật; cập nhật gia phả. | Cẩm, Cương |
Bia và quách của bà cố đã được gia đình bác Hùng – bác Dung lo xong; ba ngôi còn lại đã hoàn thiện từ trước. Phần còn lại (khung tham khảo, chốt sau khi có báo giá đội thợ trước 30/11):
| Hạng mục còn lại | Tiết kiệm | Trung bình (đề xuất) | Cao |
|---|---|---|---|
| Công lắp + vật tư phụ, lát mặt (1 ngôi) | 3 – 4 tr | 6 – 10 tr | 12 – 18 tr |
| Vận chuyển bia, quách ra mộ (nếu chưa) | 0,5 – 1 tr | 1 – 2 tr | 2 – 3 tr |
| Lễ vật 2 lễ + thầy cúng | 4 – 5 tr | 7 – 11 tr | 14 – 22 tr |
| Cỗ 12/12 (10–15 mâm) | 6 – 9 tr | 9 – 14 tr | 15 – 22 tr |
| Tổng còn lại (làm tròn, chưa gồm dự phòng 10%) | ≈ 14 – 20 tr | ≈ 25 – 40 tr | ≈ 45 – 65 tr |
| Câu hỏi | Trả lời |
|---|---|
| Bà cố vẫn ở Đắk Nông, vì sao lập mộ ở quê? | Đây là mộ vọng (mộ chiêu hồn) – tập quán lâu đời của người Việt khi không thể an táng tại quê: thầy làm lễ thỉnh hương linh về “ngôi nhà” tại quê để con cháu hương khói, còn phần mộ chính ở Đắk Nông vẫn được các chú chăm sóc. |
| Sau này ghép cốt thế nào? | Tiểu của bà cố đã đặt sẵn tại vị trí; quách để nắp rời, không trát vữa, mặt mộ lát tấm rời. Khi các cô chú thống nhất, chỉ cần chọn ngày, làm lễ, nhấc mặt mộ – nắp quách để đưa cốt vào; không phải phá bia hay xây lại. |
| Cành phan là gì, ai rước? | Lá phướn dài buộc trên cành tre, dùng để dẫn đường cho hương linh. Cành phan đi từ từ đường ra mộ rồi rước về từ đường. Đề xuất cháu đích tôn Lê Kim Cương rước, bác Hùng bưng bài vị – theo hướng dẫn cuối cùng của thầy. |
| Ai nên ở lại từ đường, không ra mộ? | Phụ nữ có thai, người đang ốm, trẻ quá nhỏ; theo tập quán, người tuổi Tuất (xung với tuổi bà cố) không đứng sát mộ lúc nhập linh vị. Tại mộ giữ trang nghiêm, không giẫm mộ khác, hạn chế chụp ảnh lúc thầy làm phép. |
| Con cháu ở xa không về được thì sao? | Có thể dự trực tuyến (gia đình phát video trong nhóm), thắp hương tại nhà cùng giờ 8h00 ngày 12/12, và công đức tùy tâm qua chuyển khoản. |
| Cần mang gì khi về dự? | Trang phục lịch sự, tối màu; giày dép đế bám (đường ra mộ có thể trơn); áo ấm, ô. Người cao tuổi có xe và người dìu. |
Nhóm Zalo đại gia đình Nhóm Facebook chi Lê tộc
Nội dung chi tiết của bài viết này không hiển thị trong ảnh chụp màn hình được cung cấp. Vui lòng mở bài viết trên hệ thống gốc và dán nội dung vào đây (mục Bài viết → Chỉnh sửa).
Mục Cẩm nang tập hợp những bài văn khấn, nghi thức và kinh nghiệm bài trí, giữ gìn từ đường để con cháu chi Lê tộc – dù ở quê hay ở xa – đều có thể tự tay lo việc hương khói đúng phép, đúng lễ.
Sắm lễ: Lễ Sóc (mùng 1) và lễ Vọng (chiều tối 14/rằm) thường là lễ chay: hương, hoa, trầu cau, quả, tiền vàng; có thể thêm lễ mặn (rượu, gà luộc…).
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
- Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
- Kính lạy ngài Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
- Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, Ngũ phương Ngũ thổ, Phúc đức chính Thần.
- Con kính lạy các ngài Thần linh cai quản trong xứ này.
Tín chủ là………………
Ngụ tại…………………
Hôm nay là ngày… tháng… năm…
Tín chủ con thành tâm sắm sửa hương, hoa, lễ vật, kim ngân, trà quả, bầy ra trước án. Đốt nén hương thơm kính mời: ngài Bản gia Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, ngài Bản gia Thổ Địa Long Mạch Tôn thần, ngài Bản gia Ngũ phương Ngũ thổ, Phúc đức chính Thần.
Cúi xin các Ngài thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ chúng con toàn gia an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long thịnh vượng, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Bản A (VOH – Bài 2, theo sách VKCT):
Nam Mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.
Kính lạy ngài Hoàng Thiên, Hậu Thổ, chư vị Tôn thần.
Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, Ngũ Phương Ngũ Thổ, Phúc đức chính Thần.
Con kính lạy các ngài Thần linh cai quản trong xứ này.
Các cụ Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Thúc bá đệ huynh và các hương linh nội, ngoại trong họ.
Hôm nay là ngày…… (mùng 1/ngày rằm) tháng…… năm……
Tín chủ con là …… Ngụ tại…… cùng toàn gia quyến thành tâm sửa biện hương hoa, lễ vật, trà quả bày lên trước án.
Chúng con thành tâm kính mời:
Các vị Tôn thần cai quản trong xứ này
Hương hồn Gia tiên nội, ngoại
Cúi xin các Ngài thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật.
Phù trì tín chủ chúng con:
Toàn gia an lạc, mọi việc hanh thông
Người người được chữ bình an,
Tám tiết vinh khang thịnh vượng,
Lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang
Sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.
Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.
Nam Mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Cẩn cáo!
Bản B (VOH – Bài 1, bản phổ biến hơn trên báo, có mời cả Thành hoàng, tiền chủ hậu chủ):
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)
Con xin kính lạy chín phương Trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương. Con xin kính lạy các ngài Hoàng thiên, Hậu thổ, chư vị Tôn thần.
Con xin kính lạy ngài Bản xứ Thổ địa, Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.
Con xin kính lạy tổ tiên, hiển tỷ, hiển khảo, chư vị hương linh (nếu bố, mẹ còn sống thì thay bằng tổ tỷ, tổ khảo)
Gia chủ (chúng) con tên là…… đang ngụ tại……
Hôm nay là ngày…… (mùng 1/ngày rằm) tháng…… năm……, gia chủ chúng con nhờ ơn đức trời đất, chư vị Tôn thần, cù lao tiên tổ, thành tâm sắm lễ, hương, trà, hoa quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án.
Chúng con kính mời các ngài Bản cảnh Thành hoàng, bản xứ Thần linh Thổ địa, Tài thần, Bản gia Táo quân, Chư vị Đại vương, Ngũ phương, Long mạch. Cúi xin các vị giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật.
Chúng con xin kính mời các vị tổ khảo, tổ tỷ, chư vị hương linh gia tiên nội ngoại dòng họ…, cúi xin thương xót con cháu linh thiêng hiện về, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật.
Tín chủ con lại kính mời các vị tiền chủ, hậu chủ ngụ tại đất này, đồng lai hâm hưởng, đồng lâm án tiền, phù hộ cho gia đình chúng con luôn luôn mạnh khỏe, mọi sự an yên, vạn sự tốt lành, gia đình hòa thuận, làm ăn phát tài.
Chúng con lễ bạc thành tâm, dâng trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy).
Ghi chú đối chiếu: Bản A (NXB Hồng Đức) ngắn gọn, kết bằng “Cẩn cáo”; Bản B (NXB VHTT) dài hơn, có mời “tiền chủ hậu chủ”. Cả hai đều được các báo dùng; nhà thờ họ nên dùng Bản B và thay “gia đình” bằng “toàn thể con cháu trong chi họ”.
Giải thích (VietNamNet): Giỗ thường “Cát kỵ” là giỗ từ năm thứ 3 trở đi, duy trì hết 5 đời. Với giỗ trọng (ông bà, cha mẹ, vợ chồng) hôm trước có lễ Tiên thường (cáo giỗ) – cúng Công thần Thổ địa trước, gia tiên sau; cúng tại gia và ngoài mộ.
(i) Văn khấn Thổ thần, Táo quân, Long mạch và các vị Thần linh vào ngày giỗ:
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con lạy chín phương Trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.
Con kính lạy Đức Hoàng thiên, Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.
Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.
Hôm nay là ngày… tháng… năm…
Tín chủ (chúng) con là… ngụ tại…
Nhân hôm nay là ngày giỗ của…
Chúng con cùng toàn thể gia quyến tuân theo nghi lễ, thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, đốt nén tâm hương, trước án tọa Tôn thần cùng chư vị uy linh.
Chúng con kính mời các vị Bản gia Thổ công, Táo quân, Long mạch và các vị Thần linh, cúi xin chứng minh, phù hộ cho toàn gia chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.
Kính thỉnh các tiên linh, gia tiên chúng con và những vong hồn nội tộc được thờ phụng vị cùng về hâm hưởng.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
(ii) Văn khấn gia tiên ngày giỗ (chính ngày Cát kỵ):
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con lạy chín phương Trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.
Con kính lạy Đức Hoàng thiên, Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.
Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.
Con kính lạy tổ tiên nội ngoại họ…
Tín chủ (chúng) con là… Ngụ tại…
Hôm nay là ngày… tháng… năm… là chính ngày Cát kỵ của…
Thiết nghĩ… vắng xa trần thế, không thấy âm dung.
Năm qua tháng lại ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề giãi tỏ. Hôm nay chúng con và toàn gia con cháu thành tâm sắm lễ, quả cau, lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án thành khẩn kính mời… mất ngày… tháng… tại…
Mộ phần an táng tại…
Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia cảnh hưng long thịnh vượng.
Con lại xin kính mời các vị tổ tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Huynh Đệ, Cô Di, và toàn thể các hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.
Tín chủ con lại xin kính mời ngài Thổ công, Táo quân và chư vị linh thần đồng lai giám cách thượng hưởng.
Tín chủ lại mời các vị vong linh tiền chủ, hậu chủ nhà này, đất này cùng tới hâm hưởng.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
(iii) Văn khấn gia tiên ngày Tiên thường (hôm trước giỗ) – lichngaytot.com: giống bài (ii) nhưng câu “Hôm nay… là chính ngày Cát kỵ” thay bằng “Chính ngày giỗ của…” và đoạn giữa: “Ngày mai Cát Kỵ, hôm nay chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tấc thành. Tâm thành kính mời… Mất ngày… tháng… năm… Mộ phần táng tại…” (phần còn lại như bài (ii)).
Ghi chú đối chiếu: Bản lichngaytot ở bài chính giỗ vẫn giữ câu “Ngày mai Cát Kỵ” (lỗi sao chép từ bài Tiên thường); bản VietNamNet đã bỏ – nên theo VietNamNet.
(Các bài này là văn Nôm lưu truyền, không thuộc sách VKCT – NXB VHTT; hai nguồn trùng nhau nguyên văn.)
Mẫu 1 – Văn khấn nôm tại nhà thờ họ (dùng cho rằm, mùng 1, lễ tết tại từ đường):
Nam mô Nhật Nguyệt Quang Minh Phật
Nam mô Địa Vương Mẫu Phật
Nam mô Ta bà Giáo chủ Bổn sư Thích ca Mâu Ni Phật
Nam mô Mười phương chư Phật, Chư Phật mười phương
Nam mô Chư vị Bồ Tát
Kính lạy: Hội đồng Thánh Mẫu
Kính lạy: Ngọc Hoàng Thượng Đế
Kính lạy: Chư Tiên, Chư Thánh, Chư Thần
Kính lạy: Thổ Thần, Thần Linh, Thổ Địa, Táo Phủ Thần Quân, Ngũ phương Địa mạch, Tiếp dẫn Tài Thần, Tiếp dẫn Lộc Thần, Tiền Hậu địa chủ, Chúa Bà bản cảnh, các tiểu Thần trong khu vực.
Kính lạy: Cửu huyền Thất Tổ, Thất Tổ Cửu Huyền.
Cao Cao tằng Tổ khảo, Cao Cao tằng Tổ tỷ, Cao tằng Tổ khảo, Cao tằng Tổ tỷ, Hiền khảo, Hiền tỷ, Bá, Thúc, Đệ, Huynh, Cô, Dì, Tỷ, Muội.
Cộng đồng nội – ngoại Gia tiên dòng họ ….
Kính lạy: Chầu Tổ Cô, Hoàng Tổ Mãnh, Bà Cô, Ông Mãnh dòng họ ….
Hôm nay là ngày … tháng … năm ….
Con tên là: ….
Đang cư ngụ tại địa chỉ: ….
Đại diện cho con cháu dòng họ ….
Xin kính dâng lễ vật, cầu xin bề trên chấp lễ chấp bái.
Chúng con cầu xin các vị Gia tiên Tiền tổ dòng họ … độ trì dạy bảo dẫn dắt cho tất cả con cháu trong dòng họ để mọi gia đình trong dòng họ …: Già được mạnh khỏe, trẻ được bình an. Con cháu hiếu thảo với ông bà, cha mẹ.
Chúng con cầu xin, gia tiên Tiền tổ độ trì để toàn thể con cháu trong dòng họ …: Cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu sức khỏe được sức khỏe, cầu tiến tới được tiến tới, cầu con được con, cầu cháu được cháu. Để cho toàn bộ dòng họ … chúng ta ngày càng đông đúc, phú quý, giàu sang, nhà cửa khang trang, hiển vinh mãi mãi.
Chúng con xin hứa: Luôn luôn ghi lòng tạc dạ công ơn sinh thành dưỡng dục của Tổ tiên. Giữ vững được truyền thống nội ngoại thương yêu, đoàn kết, sống có tôn ti trật tự trên kính dưới nhường. Phát huy được truyền thống vẻ vang, cần cù lao động, siêng năng học tập của cha ông Tiên tổ.
Cẩn cáo!
Mẫu 2 – Văn tế ngày kỵ nhật cụ Thượng tổ (có cung thỉnh Thượng tổ ông/bà và liệt vị tiên tổ từng ngành):
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tỉnh …, thành phố …, phường …, khu dân cư …, Nhà Trưởng tộc họ ….
Hôm nay ngày … tháng … năm …, tức ngày … tháng … năm …. Nhân ngày kỵ nhật cụ … – cụ Thượng tổ khai sinh ra dòng họ …, khu dân cư …, phường …, thành phố …, tỉnh ….
Cùng các bậc cao niên, các con trai, gái, dâu, rể, cháu, chắt nội, ngoại đồng tộc và thân hữu gần xa. Về đây tề tựu, nhân ngày húy kỵ cụ Thượng tổ.
Xin kính cẩn tiến lễ: Hương, đèn, phù lưu thanh tước, trà rượu, kim ngân minh y, hoa quả, bánh kẹo, mâm cỗ, đẳng vật chi nghi, lễ mọn tâm thành, cẩn chiêu cáo vu:
Cung thỉnh:
Cụ Thượng tổ ông … Công tự … tên thật ….
Cụ Thượng tổ bà ….
Cung thỉnh liệt vị Tiên tổ:
Cụ ông …; cụ bà …; cụ …: con trai, con dâu cả và cháu đích tôn của cụ Thượng tổ.
Cụ ông …, con trai thứ … của cụ Thượng tổ.
Cụ ông …, cụ bà …, con trai, con dâu thứ … của cụ Thượng tổ, nay là cụ tổ ngành 1.
Cụ ông …, cụ bà …, con trai, con dâu thứ … của cụ Thượng tổ, nay là cụ tổ ngành 2.
Cụ ông …, cụ bà …, con trai, con dâu thứ … của cụ Thượng tổ, nay là cụ tổ ngành 3.
Cụ bà … là con gái của cụ Thượng tổ.
Kính lạy cụ Thượng tổ và các vị tổ tiên dòng họ.
Lẽ tự nhiên:
Con người ta, trăm họ đều có Tổ có Tông
Giọt nước kia, triệu khối cũng có nguồn có ngọn
Muôn lá ngàn cành, đều sinh ra từ gốc rễ
Nghìn suối trăm sông, cùng khởi tự sơn khê.
Mừng hôm nay:
Trên đất quê hương, tưng bừng ngày húy nhật
Nhà thờ trưởng tộc họ ta, ngào ngạt khói hương
Toàn thể già trẻ gái trai, con cháu nhà nhà,
Về đây tề tựu, với tấm lòng thành, tưởng nhớ các Tiên linh.
Tự hào thay:
Được làm con cháu hậu duệ cụ Thượng tổ họ ….
Kiêu hãnh thay:
Được mang dòng máu liệt vị Tiên linh họ ….
Nhớ thuở xưa:
Quê hương họ ta, phụng thờ Thượng tướng quân …, xưa thuộc bản trang … sứ, thuộc huyện …, phủ …, … đạo nay là thôn …, xã …, thị xã …, tỉnh ….
Cụ Thượng tổ … sinh cơ, lập nghiệp, khai sinh dòng họ. Trải biết bao sóng gió, vượt muôn vàn gian lao, mở trời mở đất, sinh con, sinh cháu, đức lưu quang truyền nối đời đời.
Thời Phong kiến, con cháu họ … chung lưng đấu cật cùng nhau xây dựng xóm làng.
Khi giặc ngoại xâm xâm lăng bờ cõi, con cháu họ … ta không phân biệt già trẻ, gái trai đều cầm vũ khí bảo vệ quê hương đất nước.
Tiếp bước Tiên tổ, các thế hệ tiếp theo đã trên dưới thuận hòa, kỷ cương giữ vững, người người nhà nhà ra sức sản xuất, xây dựng, sẵn sàng hăng hái xung phong chiến thắng giặc đói, địch họa, thiên tai; tiếp tục mở mang quy mô dòng họ, lấy điều “nhân làm gốc”, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, từ một gốc, đã nảy nhiều cành.
Tổ tiên dòng họ ta, lấy nông nghiệp làm gốc, chăm lo trồng trọt chăn nuôi; lấy sự học mở mang học vấn làm đầu, quyết chí tu thân tích đức; giỏi việc nhà chăm việc nước, nhiều người làm chức việc xã thôn; chữ Hiếu chữ Trung, việc trong họ, công giữa cộng đồng, trước sau giữ trọn.
Tự thuở khai sinh dòng họ, đến nay lịch sử đã … thế kỷ, … thời đại trải hơn … năm; Nhờ ơn đức cụ thượng tổ và các vị liệt tổ, liệt tông dòng họ nay đã đến đời thứ …, họ … ngày càng phát triển thịnh vượng an khang, con con cháu cháu đời đời sinh sôi nảy nở.
Hôm nay đây:
Vận nước trải qua đã lắm thăng trầm
Lòng dân vẫn quy về một mối
Trên nhờ ơn Đảng, Bác Hồ
Giương cao ngọn cờ cách mạng
Trong họ nhờ hồng phúc Tổ tiên
Truyền lại ý chí kiên cường
Giành được độc lập tự do, ấm no hạnh phúc.
Nên:
Nhân ngày giỗ Tổ ngưỡng vọng tôn linh
Lễ bạc, lòng thành những mong tường tỏ
Công Tổ tiên non cao, biển rộng
Phận cháu con phải cúng, phải thờ.
Toàn gia nguyện:
Tiếp nối nghiệp Tổ tông truyền lại, dạy cháu con mãi mãi noi theo
Mở lòng nhân, trồng cây đức, giữ nếp nhà, vững bền muôn thuở.
Cúi xin:
Tổ tiên ban phúc, ban ân
Xá mọi lỗi lầm, dõi theo phù hộ
Điều lành mang đến, điều dữ mang đi
Thêm của, thêm người hanh thông quan lộ
Cho tử tôn, phồn thịnh khang ninh
Để dòng họ, trường tồn tiến bộ
Giãi tấm lòng thành, cúi xin thấu tỏ.
Cẩn cáo!
Mẫu 3 – Văn khấn giỗ Tổ (chính kỵ Thủy tổ, hợp kỵ liệt tổ) – có cáo yết Thủy tổ khảo/tỷ theo danh xưng Hán Việt:
Kính cáo vong linh Tiên tổ.
Hôm nay là ngày … tháng … Âm lịch năm ….
Năm thứ … của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngày chính kỵ cụ Thủy Tổ và cũng là ngày hợp kỵ của các bậc Tiên tổ.
Trưởng tộc là …. cùng mọi người trong họ … ở thôn …, xã …, huyện … ngoại thành … là những cháu chắt trong nội tộc đã được nảy sinh ra trong cùng một gốc, tập trung tại đây thành tâm sửa chút lễ thường, gọi là ngọn nến nén hương, cơi trầu mâm rượu. Kính cẩn dâng lên bàn thờ cúi xin cáo yết.
Thủy Tổ khảo … Công Tự ….
Thủy Tổ tỷ … Công Chính thất … an nhiên.
Tụy tổ khảo … Công Tự ….
Tụy tổ tỷ … Công Chính thất … từ ….
Tụy tổ khảo … Công Tự ….
Tụy tổ tỷ … Công Tự ….
Tụy tổ tỷ … Công Chính thất … an nhàn.
Cao cao tổ khảo … Công Tự ….
…
Kính kỵ bản tộc các chư tiên linh đồng lai chứng giám phục duy thượng hưởng.
Kính cáo Tiên tổ
Muôn vật được bảo tồn nảy nở là nhớ có sinh khí của trời đất.
Con cháu được phồn vinh thịnh vượng là nhờ phúc ấm của tổ tiên.
Tiên tổ là nguồn gốc của con cháu.
Người có tiên tổ như cây có gốc, nước có nguồn.
Cây có gốc mới nảy cành xanh ngọn.
Nước có nguồn mới biển rộng sông sâu.
Kính bái Tiên tổ
Từ buổi ban đầu, đã có nhiều công lao đắp nền xây móng, lập nghiệp sinh cơ, chăm sóc chồi nhân, vun trồng cây đức.
Gìn giữ kỷ cương đạo lý
Duy trì nề nếp gia phong
Nêu cao chí khí sáng ngời, tâm hồn bình dị, giữ trọn tấm lòng trong trắng, phẩm chất thanh cao. Nhiệt tình phát triển văn chương, coi trọng mở mang học vấn.
Lấy kiệm cần liêm chính làm phương pháp tề gia
Lấy nhẫn nại ôn hòa, làm phương châm xử thế
Truyền cho con cháu
Từ đời này sang đời khác
Từ thế hệ nọ đến thế hệ kia
Ngày thêm hiển đạt
Đời đời được hưởng
Đức hạnh dồi dào, ấm công rực rỡ
Ngàn năm thịnh vượng, muôn thuở phồn vinh
Vững bền như núi Thái Sơn
Rộng lớn bao la như biển cả
Đó chính là nhờ có phúc ấm và sự độ trì của các bậc Tiên tổ
Trong giờ phút thiêng liêng này
Đứng trước anh linh tổ tiên
Dưới làn khói tỏa hương thơm
Chúng cháu nguyện một lòng
Nâng cao đoàn kết thân yêu, lá lành đùm lá rách, gặp lúc khó khăn hoạn nạn người nọ đỡ người kia
Những người là máu chảy ruột mềm, sảy vai xuống cánh
Trong lúc vui mừng cùng hưởng, gian khó có nhau
Để thực hiện đúng câu:
Một giọt máu đào hơn ao nước lã.
Tình thương rộn rã, chị ngã em nâng.
Đó là để phát huy hơn nữa truyền thống tốt đẹp của một họ có nền văn hóa giáo dục đã lâu đời và cũng là để xứng đáng là một họ từ trước đến nay vẫn có nhiều người tiêu biểu và có danh tiếng ở địa phương.
Hôm nay chúng cháu gọi chút lòng son kính dâng Tiên tổ để bày tỏ tấm lòng sâu sắc biết ơn và cũng là để tưởng nhớ đến đức cao sâu của các bậc Tiên tổ.
Cuối cùng, chúng cháu cúi mong Tiên tổ ủng hộ độ trì cho chúng cháu mọi người trong họ được mạnh khỏe, bình an.
Buổi lễ gọi là kết thúc.
Trăm nghìn bái vọng Tổ tiên.
Mọi người một phút đứng nghiêm cúi đầu tưởng niệm
Lễ tất
Ghi chú: “Tụy tổ” trong Mẫu 3 có lẽ là lỗi in của “Tiên tổ”/“Tổ khảo” các đời; khi biên tập cho chi họ Lê nên viết theo đúng danh xưng (xem mục 20): Thủy tổ khảo/tỷ → Cao tổ → Tằng tổ → Tổ khảo/tỷ → Hiển khảo/tỷ.
Sách VKCT dùng một bài chung cho cả Thần linh và gia tiên trong lễ tất niên:
Nam mô a di đà phật! (3 lần)
Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần. Con kính lạy ngài Kim Niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn thần.
Con kính lạy các ngài bản cảnh Thành hoàng Chư vị đại vương. Con kính lạy các ngài ngũ phương, ngũ thổ long mạch, tài thần, bản gia Táo Quân cùng tất cả vị thần linh cai quản ở trong xứ này.
Con kính lạy chư gia cao tằng tổ khảo, cao tằng tổ tỷ, tiên linh nội ngoại họ… Hôm nay là ngày 30 tháng chạp năm…, tín chủ chúng con là… ngụ tại …
Trước án kính cẩn thưa trình:
Đông tàn sắp hết. Năm kiệt tháng cùng. Xuân tiết gần kề. Minh niên sắp tới. Hôm nay là ngày 30 Tết, chúng con cùng toàn thể gia quyến sắm sanh phẩm vật hương hoa, cơm canh thịnh soạn, sửa lễ tất niên, dâng cúng thiên địa tôn thần, phụng hiến tổ tiên, truy niệm chư linh.
Theo như thường lệ tuệ trừ cáo tế cúi xin chư vị tôn thần, liệt vị gia tiên, bản xứ tiền hậu chư vị hương linh giáng lâm án tọa, phủ thùy chứng giám, thụ hưởng lễ vật phù hộ cho toàn gia lớn bé trẻ già bình an thịnh vượng, luôn luôn mạnh khỏe, mọi sự bình an, vạn sự tốt lành, gia đình hòa thuận.
Nam mô a di đà phật! (3 lần)
Thứ tự: cúng ngoài trời (quan Hành khiển) trước, rồi vào cúng gia tiên trong nhà; giờ 23h–1h.
Nam mô A Di Đà Phật (3 lần).
Con kính lạy chín phương Trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.
Con kính lạy Đức Đương lai hạ sinh Di Lặc tôn Phật
Con kính lạy Đức Bồ tát Quán Thế Âm cứu nạn cứu khổ chúng sinh.
Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu thổ, chư vị tôn thần.
Con kính lạy ngài cựu niên Hành khiển, cựu Hành binh chi thần, cựu Phán quan.
Con kính lạy ngài đương niên Hành khiển, đương niên Hành binh chi thần, đương niên Phán quan.
Con kính lạy các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Long mạch, Táo quân, chư vị tôn thần.
Nay là phút giao thừa năm … với ….
Chúng con là: … sinh năm:… hành canh:… tuổi, cư ngụ tại số nhà:… ấp/khu phố:… xã/phường:… tỉnh/thành phố:…
Nhân phút thiêng liêng giao thừa vừa tới, năm cũ qua đi, đón mừng năm mới, tam dương khang thái, vạn tượng canh tân.
Nay ngài Thái Tuế tôn thần trên vâng lệnh Ngọc Hoàng Thượng đế, giám sát vạn dân, dưới bảo hộ sinh linh tảo trừ yêu nghiệt. Quan cũ về triều cửa khuyết, lưu phúc, lưu ân. Quan mới xuống thay, thể đức hiếu sinh, ban tài tiếp lộc.
Nhân buổi tân xuân, tín chủ chúng con thành tâm, sửa biện hương hoa phẩm vật, nghi lễ cung trần, dâng lên trước án, cúng dâng Phật, Thánh, dâng hiến tôn thần, đốt nén tâm hương, dốc lòng bái thỉnh.
Chúng con kính mời: Ngài cựu niên đương cai Thái Tuế, ngài tân niên đương cai Thái Tuế chí đức tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Hỷ thần, Phúc Đức chính thần, các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Long mạch, Tài thần, chư vị Bản gia Táo quân và chư vị thần linh cai quản ở trong xứ này, cúi xin giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật.
Nguyện cho tín chủ, minh niên khang thái, vạn sự tốt lành, bốn mùa tám tiết được chữ bình an, gia đạo hưng long thịnh vượng, bách sự hanh thông, ngày ngày được hưởng ơn trời, Phật, chư vị tôn thần.
Chúng con kính cẩn tiến dâng lễ vật, thành tâm cầu nguyện. Cúi xin chín phương Trời, mười phương chư Phật cùng chư vị tôn thần chứng giám phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật (3 lần, 3 lạy).
Nam mô A Di Đà Phật (3 lần).
Nam mô Đương lai hạ sinh Di Lặc tôn Phật.
Nam mô Đông phương giáo chủ Dược sư Lưu Ly Quang Vương Phật.
Nam mô Đức Bồ Tát Quán Thế Âm cứu nạn cứu khổ chúng sinh.
Con kính lạy chín phương Trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.
Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu thổ, Long mạch, Táo quân, chư vị tôn thần.
Các cụ tổ tiên nội ngoại chư vị tiên linh.
Nay phút giao thừa năm … với năm ….
Chúng con là:… sinh năm:… hành canh:… tuổi, ngụ tại số nhà:… ấp/khu phố:… xã/phường:… tỉnh/thành phố:…
Phút giao thừa vừa điểm, nay theo vận luật, tống cựu nghênh tân, giờ Tý đầu xuân, đón mừng Nguyên đán, tín chủ chúng con thành tâm tu biện hương hoa phẩm vật, nghi lễ cung trần, dâng lên trước án, cúng dâng Phật - Thánh, dâng hiến tôn thần, tiến cúng tổ tiên, đốt nén tâm hương, dốc lòng bái thỉnh.
Chúng con kính mời: Ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Hỷ thần, Phúc Đức chính thần, các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Long mạch, Tài thần, các ngài Bản gia Táo phủ Thần quân và chư vị thần linh cai quản ở trong xứ này. Cúi xin giáng lâm trước án, thụ hưởng lễ vật.
Con lại kính mời các cụ tiên linh, cao tằng Tổ khảo, cao tằng Tổ tỷ, bá thúc đệ huynh, cô di tỷ muội, nội ngoại gia tộc, chư vị hương linh, cúi xin giáng phó linh sàng thụ hưởng lễ vật.
Tín chủ lại kính mời các vị vong linh tiền chủ, hậu chủ, y thảo phụ mộc ở trong đất này, nhân tiết giao thừa, giáng lâm trước án, chiêm ngưỡng tân xuân, thụ hưởng lễ vật.
Nguyện cho tín chủ, minh niên khang thái, vạn sự cát tường, bốn mùa được bình an, gia đạo hưng long, thịnh vượng.
Tâm thành cầu nguyện, lễ bạc tiến dâng, cúi xin chứng giám.
Nam mô A Di Đà Phật (3 lần, 3 lạy).
Khác bản sách ở chỗ nêu đích danh quan Hành khiển năm cũ/mới (năm Bính Ngọ 2026: cựu niên Ngô Vương – Thiên Hao – Hứa Tào; tân niên Tần Vương – Thiên Mao – Ngọc Tào) và có câu nguyện “tiếp dẫn chân linh gia tiên nội ngoại… về nhà vui xuân đón Tết”; kết “Cẩn cáo, thượng hưởng! (Lễ 3 vái)”. Nguyên văn:
Nam vô A Di Đà Phật! (3 lần)
Kính lạy mười phương chư Phật, Bồ Tát. Kính lạy Hoàng thiên Hậu thổ, chư vị tôn thần.
Kính lạy các ngài: Cựu niên Hành khiển Thái tuế chí đức tôn thần Ngô Vương, Thiên Hao hành binh chi thần, Hứa Tào phán quan.
Kính lạy các ngài: Tân niên Hành khiển Thái tuế chí đức tôn thần Tần Vương, Thiên Mao hành binh chi thần, Ngọc Tào phán quan.
Kính lạy bản cảnh Thành hoàng, Ngũ phương ngũ thổ Phúc đức chính thần, Ngũ phương ngũ lộ Long mạch tài thần, bản gia Táo quân, bản gia Thổ công và chư vị tôn thần.
Nhân thời khắc giao thừa năm Bính Ngọ 2026, tín chủ là: ……………….. ngụ tại: ……………….. thành tâm sắm sửa hương đăng, lễ vật dâng lên trước án.
Cung kính thỉnh mời chư vị Tôn Phật, Bồ Tát, chư vị Tôn thần giáng lâm trước án chứng minh công đức.
Giao thừa tống cựu nghênh tân, năm cũ qua đi năm mới đã đến, tam dương khai thái, vạn tượng canh tân. Ngài Thái tuế tôn thần trên vâng lệnh Ngọc đế giám sát vạn dân, dưới bảo hộ sinh linh, tảo trừ yêu nghiệt. Quan cũ về chầu cửa khuyết, lưu phúc lưu ân. Quan mới tiếp quản thể đức hiếu sinh, ban tài tiếp lộc, phù hộ cho chúng con cùng gia quyến, xóm làng đều được nhân sự hưng long, vật sự tăng tiến, bình an khang thái.
Nguyện chư vị Tôn thần tiếp dẫn chân linh gia tiên nội ngoại, thúc bá huynh đệ, cô di tỷ muội gia tộc chúng con được về nhà vui xuân đón Tết.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.
Cẩn cáo, thượng hưởng! (Lễ 3 vái).
Quy tắc: khấn Thần linh trước, Tổ tiên sau.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
Con kính lạy Đức Đương lai hạ sinh Di Lặc Tôn Phật.
Con kính lạy Phật Trời, Hoàng thiên, Hậu Thổ, chư vị Tôn thần.
Con kính lạy Táo phủ Thần quân.
Con kính lạy Ngài Thổ địa, Long mạch tôn thần.
Con kính lạy Ngài Bản gia Thổ công, Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.
Con kính lạy các Ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Phúc đức Tôn thần.
Con kính lạy các Ngài Tiền hậu Địa chủ Tài thần.
Con kính lạy các Tôn thần cai quản trong khu vực này.
Tín chủ (chúng) con là: …
Ngụ tại: …
Hôm nay là ngày mùng 1 tháng Giêng năm ….
Đại mạc tình thâm, tiết xuân thiệu sáng, nhân ngày Nguyên đán đầu năm, chúng con thành tâm sửa biện hương hoa, biếu quả, kim ngân, trà quả, cỗ bàn, dâng lên trước án.
Chúng con kính mời: Ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Hỷ thần, Phúc đức chính thần, ngài Định phúc Táo quân, các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Long mạch, Tài thần, cúi xin giáng lâm trước án, thụ hưởng lễ vật.
Cầu xin các Ngài phù hộ độ trì cho tín chủ chúng con năm mới …: Minh niên khang thái, vạn sự cát tường, bốn mùa được bình an, tám tiết hưng long thịnh vượng, xuất hành thuận lợi, tài lộc dồi dào, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, cúi lạy).
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
Con kính lạy Đức Đương lai hạ sinh Di Lặc Tôn Phật.
Con kính lạy các cụ Tổ khảo, Tổ tỷ, Bá thúc huynh đệ, Cô di tỷ muội, đường thượng, đường hạ, và các hương linh nội, ngoại.
Tín chủ (chúng) con là: …
Ngụ tại: …
Hôm nay là ngày mùng 1 tháng Giêng năm ….
Nay theo vận luật, tống cựu nghinh tân, giờ Tý đầu xuân, đón mừng Nguyên đán. Chúng con thành tâm, sửa biện hương hoa phẩm vật, nghi lễ cung trần, dâng lên trước án.
Chúng con kính mời các cụ Tổ khảo, Tổ tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại, cúi xin thương xót con cháu, giáng về linh sàng, thụ hưởng lễ vật.
Cúi xin các vị phù hộ độ trì cho gia đình chúng con năm mới … bình an, hạnh phúc, lộc tài tăng tiến, công việc hanh thông, mọi sự tốt lành.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, cúi lạy).
Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)
Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần
Con kính lạy Ngài Đương niên, ngài Bản cảnh Thành hoàng, các ngài Thổ địa, Táo quân, Long Mạch, Tôn thần.
Con kính lạy các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, nội ngoại Tiên linh.
Chúng con là…… Ngụ tại……
Hôm nay là ngày mùng… tháng Giêng năm……
Chúng con thành tâm sắp sửa hương hoa nước quả, phẩm vật trà tửu, dâng lên trước án, kính cẩn thưa trình:
Tiệc xuân đã mãn, Nguyên Đán đã qua, nay xin thiêu hóa kim ngân, lễ tạ Tôn thần, rước tiễn Tiên linh trở về âm giới.
Kính xin phù hộ độ trì cho con cháu được chữ bình an, gia đạo hưng long thịnh vượng.
Chúng con lễ bạc tâm thành, nhất tâm kính lễ, cúi xin phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Lưu ý: cúng trước 12h trưa 23 tháng Chạp.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương
Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.
Tín chủ (chúng) con là: …
Ngụ tại: …
Hôm nay, ngày 23 tháng Chạp tín chủ chúng con thành tâm sắp sửa hương hoa phẩm luật, xiêm hài áo mũ, kính dâng tôn thần. Thắp nén tâm hương tín chủ con thành tâm kính bái.
Chúng con kính mời ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân hiển linh trước án hưởng thụ lễ vật.
Cúi xin Tôn thần gia ân xá tội cho mọi lỗi lầm trong năm qua gia chủ chúng con sai phạm.
Xin Tôn thần ban phước lộc, phù hộ toàn gia chúng con, trai gái, già trẻ sức khỏe dồi dào, an khang thịnh vượng, vạn sự tốt lành.
Chúng con lễ bạc tâm thành, kính lễ cầu xin, mong Tôn thần phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Nam mô A Di Đà Phật! (Đọc 3 lần, cúi lạy 3 lạy)
- Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
- Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
- Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.
- Con kính lạy Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Thúc Bá Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội họ nội họ ngoại.
Tín chủ (chúng) con là: …
Ngụ tại: …
Hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng năm …, gặp tiết Nguyên Tiêu, tín chủ con lòng thành, sửa sang hương vũ, sắm sanh lễ vật, dâng lên trước án.
Chúng con kính mời ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long mạch, Tài thần. Cúi xin các ngài giáng lâm trước án nghe lời mời, thụ hưởng lễ vật.
Chúng con kính mời các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ………………. nghe lời khẩn cầu, kính mời của con cháu, giáng về linh sàng, chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật.
Tín chủ con lại kính mời các vị vong linh Tiền chủ, Hậu chủ y thảo phụ mộc ở đất này đồng lâm án tiền, đồng lai hâm hưởng.
Nguyện xin các ngài che chở, phù hộ độ trì cho gia đạo chúng con cơ đồ vượng phát, gia đạo bình an, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm, bốn mùa không hạn ách, tám tiết hưởng thanh bình.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật! (Đọc 3 lần, cúi lạy 3 lạy).
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con kính lạy chín phương Trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.
Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu thổ, chư vị tôn thần. Con kính lạy ngài Đông Thần quân. Con kính lạy ngài Bản gia thổ địa.
Con kính lạy các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Phúc đức tôn thần. Con kính lạy các ngài tiền hậu địa chủ, Tài thần. Con kính lạy các tôn thần đang cai quản khu vực này.
Chúng con tên là… hiện ngụ tại…
Hôm nay là ngày rằm tháng 7 năm …, chúng con chân thành sửa soạn hương hoa, kim ngân, trà, quả, thắp nén nhang thơm dâng lên trước án.
Chúng con xin chân thành kính mời ngài Kim niên đương cai Thái tuế chí đức tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Long mạch tôn thần, ngài Bản gia Thổ địa, các ngài Ngũ thổ, Ngũ phương, Táo phủ Thần quân, Phúc đức chính thần và các ngài tôn thần đang cai quản trong khu vực này.
Con xin các ngài nghe thấu lời mời, xót thương gia chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù độ hộ trì chúng con toàn gia an lạc, công việc phát triển, người người được bình an, tài lộc tăng tiến, sở nguyện tòng tâm, sở cầu tất ứng, tâm đạo mở mang.
Chúng con chuẩn bị lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin các ngài phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con kính lạy chín phương Trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.
Con kính lạy tổ tiên nội ngoại và chư vị hương linh.
Tín chủ chúng con là… ngụ tại…
Hôm nay là ngày rằm tháng 7 năm …, nhân gặp tiết Vu Lan vào dịp Trung nguyên, chúng con nhớ đến tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã sinh thành ra chúng con, gây dựng cơ nghiệp, xây đắp nền nhân, khiến nay chúng con được hưởng âm đức.
Chúng con cảm nghĩ ơn đức cù lao khôn báo, cảm công trời biển khó đền nên sửa sang lễ vật, hương hoa, trà quả, kim ngân vàng bạc, thắp nén tâm hương, thành kính dâng lên các cụ Cao tằng tổ khảo, Cao tằng tổ tỷ, bá thúc đệ huynh, cô di tỷ muội và tất cả các hương hồn trong nội tộc, ngoại tộc của họ…
Cúi xin các vị thương xót cháu con, linh thiêng hiện về, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho con cháu khỏe mạnh bình an, lộc tài vượng tiến, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long, hướng về chính giáo.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con kính lạy chín phương Trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương
Con kính lạy Đức Phật Di Đà
Con kính lạy Bồ Tát Quan âm
Con kính lạy Táo phủ Thần quân
Tiết tháng 7 sắp thu phân
Ngày rằm xá tội vong nhân hải hà
Âm cung mở cửa ngục ra
Vong linh không cửa không nhà
Đại thánh khảo giáo - A Nan Đà Tôn giả
Tiếp chúng sinh không mả, không mồ bốn phương
Gốc cây xó chợ đầu đường
Không nơi nương tựa, đêm ngày lang thang
Quanh năm đói rét cơ hàn
Không manh áo mỏng - che làn heo may
Cô hồn Nam Bắc Đông Tây
Trẻ, già, trai, gái về đây hợp đoàn
Nay nghe tín chủ thỉnh mời
Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau
Cơm canh cháo nẻ trầu cau
Tiền vàng quần áo đủ màu đỏ xanh
Gạo muối quả thực hoa đăng
Mang theo một chút để dành ngày mai
Phù hộ tín chủ lộc tài
An khang thịnh vượng hòa hài gia trung
Nhớ ngày xá tội vong nhân
Lại về tín chủ thành tâm thỉnh mời
Bây giờ nhận hưởng xong rồi
Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần
Tín chủ thiêu hóa kim ngân
Cùng với quần áo đã được phân chia
Kính cáo tôn thần
Chứng minh công đức cho tín chủ con
Tên là:…
Vợ/chồng:…
Con trai:…
Con gái:…
Ngụ tại:…
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con lạy chín phương trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.
Con kính lạy Hoàng thiên Hậu thổ, chư vị tôn thần.
Con kính lạy các ngài thần linh bản xứ cai quản trong khu vực này.
Hôm nay là ngày:…
Tín chủ chúng con là:… (tên người khấn)
Ngụ tại:… (địa chỉ nhà của tín chủ)
Nhân tết Thanh minh, tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương kính dâng trước án, kính mời chư vị tôn thần lai lâm chiếu giám.
Gia đình chúng con có ngôi mộ của: (cha, ông hay cụ tam đại, tứ đại theo vai của người dưới mộ so với tín chủ), an táng tại xứ này, nay muốn sửa sang xây đắp.
Vì vậy, chúng con xin kính cáo các đấng thần linh, thổ công, thổ phủ, long mạch, tiền chu tước, hậu huyền vũ, tả thanh long, hữu bạch hổ và chư vị tôn thần cai quản trong khu vực này.
Chúng con kính mời các vị chư thần về đây chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho vong linh được an nhàn yên ổn, siêu thoát.
Cúi xin các vị phù hộ độ trì cho tín chủ chúng con toàn gia mạnh khỏe an bình, bốn mùa không tật ách, tám tiết hưởng thái bình.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Nam Mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con lạy chín phương trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.
Con kính lạy hương linh… (hiển khảo, hiển tỷ hoặc tổ khảo, tổ tỷ…).
Nhân tiết Thanh minh, tín chủ (chúng) con là:…
Ngụ tại:…
Chúng con và toàn thể gia đình con cháu, nhờ công ơn võng cực, nền đức cao dày, gây dựng cơ nghiệp của…, chạnh lòng nghĩ đến âm phần ở nơi hoang vắng, tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương kính dâng trước mộ, kính mời chân linh… lai lâm hiến hưởng.
Chúng con xin phép được sửa sang phần mộ, bồi sa, bồi thổ, cho được dày bền, tu sửa minh đường hậu thuỷ cho thêm vững chắc. Nhờ ơn Phật thánh phù trì, đội đức trời che đất chở, cảm niệm thần linh phù độ, khiến cho được chữ bình an, âm siêu dương thái. Con cháu chúng con xin vì chân linh… phát nguyện tích đức tu nhân, làm duyên, làm phúc, cúng dâng tam bảo, giúp đỡ cô nhi quả phụ, tế bần cứu nạn, hiếu thuận tông nhân để lấy phúc này hướng về tiên tổ.
Cúi xin linh thiêng chứng giám, thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì con cháu, qua lại soi xét cửa nhà. Che tai cứu nạn, ban tài tiếp lộc, điều lành mang đến, điều dữ xua đi. Độ cho gia đạo hưng long, quế hoè tươi tốt, cháu con vui hưởng lộc trời, già trẻ nhờ ơn Phật thánh.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
(Sau khi khấn, đợi hết 2/3 tuần hương thì tạ lễ, hóa vàng, về nhà làm lễ gia tiên.)
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con lạy chín phương trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.
Con kính lạy ngài Hoàng Thiên, Hậu Thổ, chư vị tôn thần.
Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị tôn thần.
Con kính lạy tổ tiên, hiển khảo, hiển tỷ, chư vị hương linh. (Nếu bố, mẹ còn sống thì thay bằng: Con kính lạy tổ tiên, tổ khảo, tổ tỷ, chư vị hương linh).
Tín chủ (chúng) con là:…
Ngụ tại:…
Hôm nay là ngày… gặp tiết Thanh minh, tín chủ chúng con nhớ ơn đức trời đất, chư vị tôn thần, tiên tổ, thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án.
Chúng con thành tâm kính mời ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long mạch, Tài thần. Cúi xin các ngài nghe thấu lời mời, thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật.
Chúng con kính mời các cụ cao tằng tổ khảo, cao tằng tổ tỷ, chư vị hương linh gia tiên nội ngoại họ… cúi xin thương xót con cháu, giáng về linh sàng, chứng giám tâm thành hưởng thụ lễ vật.
Tín chủ con lại kính mời vong linh các vị tiền chủ, hậu chủ ngụ trong nhà này, đất này đồng lâm án tiền, đồng lai hâm hưởng, phù hộ cho toàn gia chúng con luôn luôn mạnh khoẻ, mọi sự bình an, vạn sự tốt lành, làm ăn phát tài, gia đình hoà thuận.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Nghi thức: thắp hương vái bốn phương tám hướng rồi quay vào mâm lễ khấn; gia chủ cuốc nhát đầu tiên rồi mới cho thợ đào.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
- Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
- Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
- Con kính lạy Quan Đương niên.
- Con kính lạy các Tôn thần bản xứ.
Tín chủ (chúng) con là:……………. Ngụ tại:……………
Hôm nay là ngày… tháng….năm….. tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương, dâng lên trước án, có lời thưa rằng:
Hôm nay tín chủ con khởi tạo…. (nếu cất nóc thì đọc là cất nóc, nếu xây cổng thì đọc là xây cổng, nếu chuyển nhà thì đọc là chuyển nhà) ngôi đương cơ trụ trạch để làm nơi cư ngụ cho gia đình con cháu.
Nay chọn được ngày lành tháng tốt, kính cáo chư vị linh thần, cúi mong soi xét và cho phép được động thổ (hoặc cất nóc).
Tín chủ con lòng thành lễ vật dâng lên trước án thành tâm kính mời: ngài Kim Niên Đường Thái tuế chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài định phúc Táo quân, các ngài Địa chúa Long Mạch Tôn thần và tất cả các vị Thần linh cai quản trong khu vực này.
Cúi xin các Ngài giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho chúng con được vạn sự tốt lành, công việc hanh thông, Chủ thợ được bình an, ngày tháng hưởng phần lợi lạc, âm phù dương trợ, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm. Tín chủ lại xin phổ cáo với các vị Tiền chủ, Hậu chủ và các vị Hương linh, cô hồn y thảo phụ mộc, phảng phất quanh khu vực này, xin mời các vị tới đây thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ, cũng như chủ thợ đôi bên khiến cho an lạc, công việc chóng thành, muôn sự như ý.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
- Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.
- Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
- Con kính lạy các ngài Long Mạch, Sơn Thần, Thổ địa, Thần linh cai quản trong xứ này.
Hôm nay là ngày……tháng…..năm……
Tín chủ (chúng) con là:……………………..
Ngụ tại………………………………………………
Nhân hôm nay ngày Cải Cát (dời mộ, sửa mộ) của…………… mộ phần tại………
Chúng con cùng toàn thể gia quyến tuân theo nghi lễ sắn sửa hương hoa lễ vật dâng lên án tọa Tôn thần cùng chư vị uy linh, kính cẩn tâu trình.
Kính cáo Sơn Thần, Thổ Thần, Long Mạch và các vị Thần linh, cúi xin chứng minh, phù hộ cho toàn gia chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Văn khấn vong linh khi Cải cát (dời mộ xong, lễ Ngu) – cùng nguồn:
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
- Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.
- Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương
- Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân
- Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ
Hôm nay là ngày…. tháng …. năm ……., tại tỉnh……huyện……xã……thôn……..
Hiển khảo (hoặc tỷ)………………………………………mộ tiền
Than rằng: Thương xót cha (hay mẹ) xưa, vắng xa trần thế.
Thác về, sống gửi, đất ba thước phải vùi chôn.
Phách lạc hồn bay, hình trăm năm khó gìn để;
Lúc trước việc nhà bối rối, đặt để còn chưa hợp hướng phương.
Tới nay, tìm đất tốt lành, sửa sang lại, cầu an hình thể.
Rày thân: Phần mộ dời xong, lễ Ngu kính tế.
Hồn thiêng xin hưởng, nguyện cầu vĩnh viễn âm phần.
Phúc để di lưu, phù hộ vững bền miêu duệ.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Kính lạy:
– Ngài Kim niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn thần, Kim niên hành binh, Công tào phán quan.
– Ngài bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại vương.
– Ngài bản xứ thần linh Thổ địa tôn thần.
– Các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ long mạch Tôn thần, Tiền Chu tước, Hậu Huyền vũ, Tả Thanh long, Hữu Bạch hổ cùng liệt vị Tôn Thần cai quản ở trong xứ này.
Chúng con là:……………………………………………………
Địa chỉ:…………………………………………………………………………………
Sắm sanh phẩm vật, hương hoa phù tửu lễ nghi, trình cáo Tôn thần, kính viếng vong linh là:……………..(Tên người đã mất)…………….
Tuổi………………………….
Tạ thế ngày…………………………………………………………..
Phần mộ ký táng tại……………………………………………….
Nay con xin cúi lạy Thần linh đất này, Thành hoàng bản thổ nơi đây, đất lành chim đậu, đức dày thanh cao, giữ lành công lao, có kết có phát nhờ vào thần quan, tôn thần long mạch cao sang, nhị thập tứ hướng nhị thập tứ sơn quanh vùng.
Chọn đây an táng mộ phần, thỏa yên muôn thủa, hồng ân đời đời, gia ân mãi mãi không thôi, chúng con xin có vài lời cầu xin: Bái tạ thủ mộ thần quan, cho chân linh dưỡng cho hài cốt nguyên vẹn toàn, phù hộ con cháu trần gian, an khang mạnh khỏe ăn làm gặp may. Âm dương cách trở, bát nước nén hương, biểu tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.
Phục duy cẩn cáo!
(Khấn 3 lần rồi đốt vàng tiền).
Văn khấn tạ mộ cuối năm (chạp mộ, mời tổ tiên về ăn Tết) – cùng nguồn damyngheninhvan.net:
Nam mô a di đà Phật! (3 lần)
– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
– Con kính lạy ngài Địa tạng vương bồ tát.
– Con kính lạy ngài Kim Niên Đương cai Thái Tuế Chí đức Tôn thần, Kim niên hành binh, Công tào Phán quan.
– Con kính lạy ngày Bản cảnh Thành Hoàng Chư vị Đại Vương quản cai nơi nghĩa trang.
– Con kính lạy Ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa Tôn thần.
– Con kính lạy các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ Long Mạch Tôn thần, các ngài Tiền Chu Tước, Hậu Huyền Vũ, Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ cùng liệt vị Tôn Thần cai quản trong nơi nghĩa trang này.
– Con kính lạy hương linh cụ:………………………………………………………
Hôm nay là ngày… …….tháng Chạp, năm cũ sắp qua, năm mới sắp đến.
Tín chủ (chúng) con là:………………………………………………………………
Ngụ tại:………………………………………………………………………………….
Chúng con sắm sanh phẩm vật, hương hoa trà quả, kim ngân tài mã, dâng hiến trình cáo Tôn thần, kính rước vong linh bản gia tiên tổ chúng con là:……………kỵ nhật là…….có phần mộ táng tại…………được về với gia đình đón mừng năm mới, để cho cháu con được phụng sự trong tiết xuân thiên, báo đáp ân thâm, tỏ lòng hiếu kính. Cúi xin Tôn thần, Phủ thùy doãn hứa.
Âm dương cách trở – Bát nước nén hương – Thành tâm kính lễ – Cúi xin chứng giám – Phù hộ độ trì
Nam mô a di đà Phật! (3 lần)
Sắm lễ: lấy nước ba con sông hòa năm loại đất nặn Thần Quy (rùa), chỉ 5 màu; đào hố bày lễ ngũ hành (hoa quả, lễ mặn 5 màu), hương, vàng mã cạnh hố rồi khấn.
- Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
- Con kính lạy Đức U minh Giáo chủ Địa Tạng Vương Bồ Tát
- Con kính lạy Đức Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
- Con kính lạy các Ngài Ngũ phương, Ngũ đế, Ngũ nhạc thánh đế, Nhị thập tứ khí phần quan, Địa mạch thần quan, Thanh Long Bạch Hổ, chư vị thổ thần cùng quyến thuộc.
- Con kính lạy các ngài Kim Niên Đương cai Tôn thần, Bản cảnh Thành hoàng Tôn thần và các vị thần minh cai quản trong khu vực này.
Tín chủ (chúng) con là:……
Ngụ tại:……………………
Hôm nay là ngày…. Tháng…. Năm…, tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án, xin điền hoàn địa mạch. Tín chủ có lời thưa rằng:
Bởi vì trước đây
Do tinh mờ mịt
Thức tính hồn mờ
Đào đất lấp ao
Gầy nên chấn động
Hoặc bởi khách quan
Hoặc do chủ sự
Tổn thương Long Mạch
Mạo phạm thần uy
Ảnh hưởng khí mạch
Nay muốn cho phong thổ an hoà, gia đình chúng con mọi người được an bình, miễn trừ tai họa, nên tín chủ con trượng uy Đại Sỹ, nương đức Tôn thần, cung tạo bồi hoàn, nhương kỳ khẩn đảo thần công, nguyện xin bảo hộ, chứng minh sám hối, thụ hưởng đan thành.
Tín chủ chúng con xin thành tâm cúng dâng Ngài
U minh Giáo chủ Bản tôn Địa Tạng Vương Bồ Tát
Ngài Kiên Lao địa thần Bồ Tát, các Ngài Ngũ phương,
Ngũ đế, Hậu Thổ nguyên quân, Sơn nhạc Đế quân,
Đương phương Thổ địa, Thổ phủ Thần kỳ, 24 Khí
Thần quan, 24 Long Mạch Thần quan, 24 Địa Mạch
Thần quan, 24 Sơn Địa Mạch Thần quan, 24 Hướng
Địa Mạch Thần quan, Thanh long Bạch hổ, Thổ bá,
Thổ hầu, Thổ mãnh, Thổ trọng Thần quan, Thổ phụ,
Thổ mẫu, Thổ lương, Thổ gia Thần quan, Thổ tử,
Thổ tôn, Thổ khảm, Thổ khôn Thần quan,
Thổ kỳ Ngũ phương Bát quái và các Thần minh quyến thuộc,
Kim niên Hành khiển Thái tuế chư đức Tôn thần,
Đương cảnh Thành hoàng bản thổ Đại Vương và tất cả các vị Thần minh cai quản khu vực này,
Cúi xin thương xót tín chủ chúng con, nhận lời cầu thỉnh, chuẩn tâu sám tạ, giáng phó án tiền, hưởng lễ vật. Nguyện cho:
Phong thổ phì nhiêu
Khí sung mạch vượng
Thần an tiết thuận
Nhân sự hưng long
Sở cầu như ý.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
(i) Văn khấn Thần linh:
Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)
- Con lạy chín phương Trời, mười Phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
- Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
- Con kính lạy Các ngài Thần linh bản xứ cai quản trong khu vực này.
Tín chủ (chúng) con là:………….
Hôm nay là ngày….. tháng…. năm…. tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án. Trước bản tọa chư vị Tôn thần tín chủ con kính cẩn tâu trình:
Các vị Thần linh,
Thông minh chính trực,
Giữ ngôi tam thai
Nắm quyền tạo hóa
Thể đức hiếu sinh
Phù hộ dân lành
Bảo vệ sinh linh.
Nêu cao chính đạo.
Nay gia đình chúng con hoàn tất tân gia, chọn được ngày lành dọn đến cư ngụ, phần sài nhóm lửa, kính lễ khánh hạ. Cầu xin chư vị minh Thần cho chúng con được nhập vào nhà mới tại:…………..và lập bát nhang thờ chư vị Tôn thần.
Chúng con xin phép chư vị Tôn thần cho rước vong linh Gia tiên chúng con về ở nơi này để thờ phụng. Chúng con cầu xin chư vị minh Thần gia ân tác phúc, độ cho gia quyến chúng con an ninh, khang thái, làm ăn tiến tới, tài lộc dồi dào vạn sự như ý, vạn điều tốt lành.
Tín chủ lại mời các vong linh Tiền chủ, Hậu chủ ở trong nhà này, đất này xin cùng về đây chiêm ngưỡng Tôn thần, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho tín chủ con sức khỏe dồi dào, an khang, thịnh vượng.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)
(ii) Văn khấn cáo yết Gia tiên:
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Kính lạy Tiên nội ngoại họ…………..
Hôm nay là ngày….. tháng….năm……
Gia đình chúng con mới dọn đến đây là: (địa chỉ):…..
Chúng con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước ban thờ Cụ nội ngoại gia tiên. Nhờ hồng phúc tổ tiên, ông bà cha mẹ, chúng con đã tạo lập được ngôi nhà mới. Nhân chọn được ngày lành tháng tốt, thiết lập án thờ, kê giường nhóm lửa, kính lễ khánh hạ.
Cúi xin các cụ, ông bà cùng chư vị Hương linh nội ngoại họ……… thương xót con cháu, chứng giám lòng thành, giáng phó linh sàng thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì cho chúng con, lộc tài vượng tiến, gia đạo hưng long, cháu con được bình an mạnh khoẻ.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô a di Đà Phật!
Gợi ý biên tập cho khánh thành từ đường: thay “hoàn tất tân gia… nhập vào nhà mới” bằng “hoàn tất xây dựng Từ đường chi Lê tộc tại thôn Phấn Thôn, xã Xuân Hòa… xin lập bát hương thờ chư vị Tôn thần và rước vong linh Thủy tổ, liệt vị tiên linh về ngự”.
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô A Di Đà Phật Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát
Con xin kính chư Phật mười phương, chư Bồ tát, chư Thần, chư Thánh, chư Thành hoàng Thổ địa và ông bà tổ tiên nhiều đời đã mất của dòng họ… Hôm nay, ngày… tháng … năm… Con tên là:…. Chúng con thành tâm có chút lễ mọn để bày tỏ lòng thành kính, biết ơn sự bảo vệ và giúp đỡ của các Ngài trong thời gian qua.
Nay công việc xây dựng nhà thờ tổ đã được hoàn thành viên mãn, chúng con xin khánh thành nhà thờ tổ dòng họ… để làm nơi cho con cháu hướng tới cội nguồn, biết ơn ông bà tổ tiên đã có công lao nuôi dưỡng và gây dựng cơ nghiệp cho con cháu.
Cầu xin các Ngài phù hộ cho toàn thể dòng họ… được mạnh khỏe, bình an, tăng trưởng trí tuệ, phước đức, đạt được mọi thành tựu và ước nguyện tốt đẹp. Con xin nương tựa Tam Bảo, thường làm điều lành, tránh xa điều ác, tin sâu nhân quả, tích tập công đức và tăng trưởng trí tuệ.
Đọc thần chú: Quan Thế Âm Bồ Tát (3 lần hoặc 7 lần hoặc 21 lần); Om Mani Padme Hum
Con xin hồi hướng tất cả công đức con đã tích tập được trong ngày hôm nay, trong cuộc đời này, trong tất cả các đời quá khứ và tương lai cho sự hạnh phúc và giác ngộ của tất cả chúng sinh, trong đó có ông bà tổ tiên, con cháu của dòng họ… Cầu mong cho người sống được khỏe mạnh bình an, may mắn và người đã mất sớm có được tái sinh tốt đẹp, thường có các duyên lành gặp được Phật pháp, dẫn đến giác ngộ và giải thoát.
(i) Bát hương Thần linh – Thổ công:
Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)
– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
– Con kính lạy Hoàng Thiên, Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
– Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.
– Con kính lạy Lịch đại Tiên linh, Lịch đại Tổ khảo, Tổ tỷ, Cao tằng Tổ khảo, Cao tằng Tổ tỷ.
Tín chủ (chúng) con là: …………………………..
Ngụ tại: ………………………………………………
Hôm nay là ngày … tháng … năm …, tín chủ con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án. Chúng con thành tâm kính mời: Ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Ngũ thổ, Long Mạch, Tài thần, cùng tất cả các vị Thần linh cai quản trong khu vực này.
Cúi xin các ngài nghe thấu lời mời mà giáng lâm trước án, thụ hưởng lễ vật.
Tín chủ con thành tâm thiết lập bát hương, thành tâm khấn trình các vị thần linh, đất đai. Chúng con cúi mong các ngài phù trì, độ mạng cho chúng con được bình an, mạnh khỏe, công việc thuận lợi, gặp nhiều may mắn, tài lộc hanh thông, gia đình hòa thuận, hạnh phúc.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)
(ii) Bát hương Gia tiên:
Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)
– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
– Con kính lạy Hoàng Thiên, Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
– Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.
– Con kính lạy Lịch đại Tiên linh, Lịch đại Tổ khảo, Tổ tỷ, Cao tằng Tổ khảo, Cao tằng Tổ tỷ, Tiên linh nội ngoại họ …
Tín chủ (chúng) con là: …………………………..
Ngụ tại: ………………………………………………
Hôm nay là ngày … tháng … năm …, tín chủ con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án. Chúng con thành tâm kính mời: Chư vị Tổ tiên, Cao, Tằng, Tổ khảo, Cao, Tằng, Tổ tỷ nội ngoại hai bên họ hàng, cúi xin các ngài linh thiêng hiển về giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật.
Tín chủ con thành tâm thiết lập (di chuyển) bát hương gia tiên. Cúi xin chư vị gia tiên chứng giám, phù hộ độ trì cho gia đạo chúng con được bình an, mạnh khỏe, mọi sự bình an, may mắn, con cháu học hành tấn tới, công danh thành đạt, làm ăn phát đạt.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)
Quy trình bốc bát hương (gomsutamviet.vn, khớp với phongthuyvuong.com): tẩy uế bát hương bằng rượu gừng; cốt thất bảo + tờ hiệu bọc giấy trang kim đặt đáy; tro nếp sàng mịn đổ 2/3 bát, đếm “Sinh – Lão – Bệnh – Tử” dừng ở “Sinh”; đặt lên bàn thờ, xông trầm; thắp 3 nén, đọc văn khấn; sau đó cúng an vị (thường 3 ngày sau hoặc trong 100 ngày thắp hương liên tục theo quan niệm dân gian). Người bốc: trưởng nam/trưởng họ, tắm gội sạch, tâm thanh tịnh.
Giờ thắp: sáng sớm hoặc chiều tối trước 19h.
Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)
- Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương
- Kính lạy ngài Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn Thần
- Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, Ngũ phương Ngũ thổ, Phúc đức chính Thần.
- Con kính lạy các ngài Thần linh cai quản trong xứ này
- Các cụ Cao Tằng Tổ khảo, Cao Tằng Tổ tỷ
- Thúc bá đệ huynh và các hương linh nội ngoại
Hôm nay là ngày…….tháng……năm…….
Tín chủ con là:…………………
Ngụ tại:…………………………………….cùng toàn gia quyến
Thành tâm sửa biện hương hoa, lễ vật, trà quả và các thứ cúng dâng, bày lên trước án
Chúng con thành tâm kính mời:
- Các vị Tôn thần cai quản trong khu vực này
- Hương hồn gia tiên nội, ngoại
Cúi xin các Ngài thương xót tín chủ
Giáng lâm trước án. Chứng giám lòng thành. Thụ hưởng lễ vật
Phù trì tín chủ chúng con:
Toàn gia an lạc, mọi việc hanh thông
Người người được chữ bình an
Tám tiết vinh khang thịnh vượng
Lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang
Sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm
Dãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám
Cẩn cáo!
Bài khấn Nôm rút gọn thường nhật (tổng hợp từ cấu trúc chung các bài trên, dùng khi thắp hương sáng/tối tại từ đường – gợi ý, không phải nguyên văn sách): “Nam mô A Di Đà Phật (3 lần). Con lạy chín phương Trời, mười phương chư Phật. Con kính lạy Hoàng thiên Hậu thổ, chư vị Tôn thần, Thổ công Táo quân bản xứ. Con kính lạy Thủy tổ, liệt vị tiên linh chi Lê tộc. Hôm nay ngày… tháng… năm…, con là… thay mặt con cháu thắp nén tâm hương, dâng chén nước trong, kính mời chư vị giáng lâm chứng giám, phù hộ con cháu trong chi mạnh khỏe, bình an, hòa thuận, học hành tấn tới. Cẩn cáo.”
Bài này viết cho khấn tại nhà thờ họ (“quỳ trước linh vị… Thủy Tổ, Tiên Tổ được liệt thờ trong nhà thờ họ”), thường làm mồng 2 Tết:
Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)
Con lạy chín phương Trời, mười phương Phật, Chư Phật mười phương.
Hôm nay ngày…….tháng…….năm……
Tại (địa chỉ)…………………………….
Hậu duệ tôn là:………………………….. quỳ trước linh vị (đọc linh vị của Thủy Tổ, Tiên Tổ được liệt thờ trong nhà thờ họ…………)
Kính cẩn lạy tâu rằng:
Cúi nghĩ: tuổi tác tự Trời Phật ban cho
Hình hài nhờ Tổ Tiên mới có
Nay: …………
Toàn dân hớn hở đón xuân sang
Tín chủ mừng vui làm lễ thọ
Yết cáo chư vị Thần Linh
Kính lạy miếu đường Tiên Tổ
Xin rộng lòng nhân
Nguyện vun trồng đức độ
Mong sao ngày tháng mãi bền lâu
Ước gốc cành thêm củng cố
Tưởng niệm công đức ngày xưa
Gọi chút hương khói lễ nhỏ
Ngửng trông chứng giám tấc thành
Cúi xin phù trì bảo hộ
Mong Tiên linh khơi rộng mạch Trường sinh
Cho hậu duệ leo lên thềm Thượng thọ
Trên Thiên tào tăng niên kỷ lâu dài, như rùa hạc vô cương
Dưới Hải ốc tươi phúc lộc dồi dào, như suối nguồn bất hủ
Khấn đầu cúi lạy Thần linh, tiên tổ thượng hưởng!
Lễ vật (VOH): hương hoa, quả, vàng mã, lễ mặn (gà, xôi) hoặc tam sinh; con cháu dâng rượu/bàn đào chúc thọ; cụ ngồi ghế giữa, con cháu lễ bái rồi mở tiệc mời làng xóm.
Lễ cúng 12 Bà Mụ và 3 Đức Ông; bố hoặc mẹ thắp 3 nén hương, bế bé ra trước án khấn.
Nam Mô A Di Đà Phật! (3 lần)
- Con kính lạy Đệ nhất Thiên tỉ đại tiên chúa
- Con kính lạy Đệ nhị Thiên đế đại tiên chúa
- Con kính lạy Đệ tam Tiên Mụ đại tiên chúa
- Con kính lạy Thập nhị bộ Tiên nương
- Con kính lạy Tam thập lục cung chư vị Tiên nương
Hôm nay là ngày … tháng … năm
Vợ chồng con là …………………..
Sinh được con (trai, gái) đặt tên là ……………………
Chúng con ngụ tại: ……………………………………..
Nay nhân ngày đầy tháng (đầy cữ, đầy năm) chúng con thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật và các thứ cúng dâng bày lên trước án, trước bàn tọa chư vị Tôn thân kính cẩn tâu trình:
Nhờ ơn thập phương chư Phật, chư vị Thánh hiền, chư vị Tiên Bà, các đấng Thần linh, Thổ Công, Long Mạch, Thổ Địa chính thần, Tiên tổ nội ngoại, cho con sinh ra cháu tên là …………… sinh ngày ……………. được mẹ tròn con vuông.
Cúi xin chư vị Tiên Bà, chư vị Tôn thần giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì, vuốt ve che chở cho cháu được ăn ngoan, ngủ yên, hay ăn chóng lớn, vô bệnh vô tật, vô tai vô ương, vô hạn vô ách. Phù hộ cho cháu bé được tươi đẹp, thông minh, sáng láng, thân mệnh bình yên, cường tráng (nếu là bé trai), kiếp kiếp được hưởng vinh hoa phú quý. Toàn gia chúng con được phúc thọ an khang, nhân lành nảy nở, nghiệp dữ tiêu tan, bốn mùa không hạn ách nào xâm, tám tiết hưởng vinh quang thịnh vượng.
Xin thành tâm kính lễ, cúi xin được chứng giám lòng thành.
Nam Mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Cẩn cáo!
(Ghi chú: bản gốc in “Tam tập lục cung” – đúng là “Tam thập lục cung” (36 cung).)
Cấu trúc ba lớp (thượng – trung – hạ) của gian thờ từ đường:
Lớp trong cùng, cao nhất (thượng): sập/án gian cao kê sát tường hậu, đặt khám thờ hoặc ngai thờ (ỷ) chứa bài vị Thủy tổ (hoặc bài vị “Cửu huyền thất tổ” của họ). Bàn thờ tam cấp: tầng trên cùng đặt bài vị/ảnh tổ lớn nhất (ông tổ, bà tổ); tầng giữa đặt bài vị/di ảnh các đời ông bà, bà tổ cô, ông mãnh; tầng dưới cùng rộng nhất bày đồ thờ và lễ vật. Theo dòng Phật giáo có thể phân: tầng trên bát hương Phật, tầng giữa Thần linh, tầng dưới gia tiên – bà cô ông mãnh. Quy tắc: không để hai bát hương trên cùng một cấp (thietkenhathoho.com).
Lớp giữa (trung – hương án): bộ tam sự (đỉnh đồng ở giữa, đôi hạc/đôi chân nến hai bên) hoặc ngũ sự (đỉnh + đôi hạc + đôi chân nến), lư hương/đỉnh đặt sau bát hương dùng đốt trầm dịp lễ lớn; ống hương hai bên; đèn dầu/nến hai bên tạo cân bằng âm dương.
Lớp ngoài (hạ – bàn thờ chính, thấp hơn): bát hương: 1 hoặc 3 bát. Nếu 3 bát: bát giữa (to nhất) thờ Thần linh – Thổ công, nhìn từ trong ra: bên trái (tả) gia tiên, bên phải (hữu) bà cô ông mãnh (thietkenhathoho.vn; vietnamnet bao sái cũng phân 3 bát: thần linh – gia tiên – bà cô ông mãnh). Trước bát hương là kỷ chén/đài nước (3 hoặc 5 chén, số lẻ); mâm bồng (1 hoặc 3) đựng hoa quả, trầu cau; lọ hoa và mâm quả theo nguyên tắc “Đông bình – Tây quả”: lọ hoa bên Đông (bên trái nhìn từ trong ra/bên phải người đứng lễ), mâm quả bên Tây; đôi chóe đựng gạo, muối/nước đặt hai góc trong; nậm rượu, bát sâm, bộ ấm trà thờ.
Ảnh thờ: đặt sau bát hương, thấp hơn ngai/bài vị; quy tắc “nam tả nữ hữu” (từ trong nhìn ra: ông bên trái, bà bên phải); bài vị đặt chính giữa, phía sau lư hương; nếu chung một bàn thờ thì linh vị tổ tiên bên phải, thần linh bên trái (dothosondong.com.vn – lưu ý các nguồn không thống nhất tả/hữu tuyệt đối vì quy ước “trong nhìn ra” hay “ngoài nhìn vào”).
Phía trên và hai bên: hoành phi (3–4 chữ đại tự như “Lê Tộc Từ Đường”, “Đức Lưu Quang”, “Phúc Mãn Đường”) treo chính giữa phía trên bàn thờ, hơi nghiêng về trước; cuốn thư có thể thay hoành phi; câu đối treo hai cột/hai bên, thấp hơn hoành phi, cách mép bàn thờ ~10 cm, cân đối; cửa võng (bao lam chạm lộng) treo phía trước dưới hoành phi, ngăn không gian thờ; y môn (màn/rèm điều) che phía trước khám; thiều châu hai bên cửa võng.
Vị trí tổng thể: bàn thờ đặt trung tâm hậu cung, lùi sâu, cao hơn nền, sau lưng là tường vững, không có cửa/lối đi phía sau (“tọa sơn hướng thủy”, “hậu chẩm” vững, “tiền án” – minh đường trước rộng); phía trước là khoảng trống trải chiếu/sập để hành lễ.
Những vật KHÔNG nên đặt: gương hoặc bề mặt phản chiếu đối diện bàn thờ; tivi, loa đài, máy tính dưới chân bàn thờ; bàn thờ dưới xà ngang, đối diện cửa chính, nhà vệ sinh, bếp, phòng ngủ; đèn chiếu thẳng vào bàn thờ/tượng; đồ vật linh tinh, hoa giả, đồ giả; không dùng gỗ đã qua sử dụng làm bàn thờ; không đặt quá nhiều bát hương gây rối. Bàn thờ phải đủ ngũ hành: Kim (đồ đồng), Mộc (gỗ), Thủy (chén nước, lọ hoa), Hỏa (đèn nến, hương), Thổ (tro bát hương).
Nguyên tắc chọn hướng: theo địa thế “tọa sơn hướng thủy” và Bát trạch theo tuổi trưởng tộc/trưởng chi. Trưởng tộc Đông tứ mệnh (Khảm, Ly, Chấn, Tốn) chọn hướng Đông tứ trạch: Bắc, Nam, Đông, Đông Nam; Tây tứ mệnh (Càn, Khôn, Cấn, Đoài) chọn Tây, Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc. Bàn thờ nên đặt vào các cung tốt Sinh khí, Thiên y, Diên niên, Phục vị; tránh Tuyệt mệnh, Ngũ quỷ, Lục sát, Họa hại. Nếu địa thế không cho phép, ưu tiên thế đất, dùng bình phong/vách ngăn để hóa giải.
Hướng phổ biến ở Bắc Bộ: Nam (hướng truyền thống, “lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam”), Đông Nam (đón tài lộc), Đông (sinh khí). Nguồn thietkenhathoho.vn khuyên tránh Tây Bắc (thiên môn sát) và Tây Nam (âm khí) – đây là quan điểm một nguồn, không tuyệt đối.
Địa thế: đất cao ráo, phía trước có minh đường rộng, phía sau có thế tựa (huyền vũ). Tránh đất trũng, sát ao hồ, nghĩa địa, bệnh viện, đất hình tam giác/méo mó, đường đâm thẳng vào cửa chính (xung sát trực diện).
Bố cục trục thần đạo: Cổng (tam quan) – bình phong – sân tế (minh đường) – nhà chính – hậu cung – tả hữu vu. Đối xứng, cân bằng âm dương.
Cổng: không quá to/nhỏ so với tổng thể; hướng cổng nên lệch một chút so với trục chính, không đối thẳng cửa chính (tránh xung sát). Bình phong (đá/xây gạch/bể cạn – non bộ) đặt giữa cổng và cửa chính để chắn khí xấu, tạo “tiền án”.
Sân: rộng, vuông vức, lát phẳng (gạch tàu, đá xanh); kiêng trồng cây lớn giữa sân hoặc vật chắn giữa lối vào.
Cây trồng: vạn tuế, tùng, lộc vừng, hoa đại, cau, mộc hương; trồng hai bên cổng hoặc góc sân; tránh cây gai (xương rồng, trúc đào), cây chết khô, cây to sát móng/mái, cây to án ngữ trước cửa chính.
Cao độ: bàn thờ tổ đặt cao nhất từ đường; theo quan niệm dân gian nhà thờ họ không được thấp hơn nhà ở liền kề hay bị nhà cao che chắn phía trước (nguồn thuviennhadat.vn); phía sau bàn thờ phải là tường kín, không để trống, không có cửa sổ/lối đi sau lưng.
Mái, màu: mái ngói dốc vừa phải; Đông tứ trạch hợp ngói đỏ/nâu đất, Tây tứ trạch hợp ngói xám trầm. Ánh sáng vàng ấm gián tiếp, thông gió tốt, không quá tối/quá chói.
Kiêng khác: không đặt gương trong nhà thờ; không dùng đồ hiện đại ồn ào (loa lớn, tivi) trong không gian thờ; giữ hương khói, lau dọn, cúng giỗ đúng lệ.
Số nén hương (số lẻ, dương): 1 nén (“bình an hương”) thắp hằng ngày sáng/tối; 3 nén phổ biến nhất cho mùng 1, rằm, giỗ, lễ – tượng trưng Tam bảo/Thiên–Địa–Nhân, tâm nhang – giới nhang – định nhang; 5 nén (“thiên địa ngũ hành hương”) chỉ khi dòng họ, làng, tập thể có việc đại sự (giỗ Tổ, khánh thành từ đường) – cầu ngũ phương ngũ thổ chứng giám; 7 nén (Bắc đẩu thất tinh) và 9 nén (cửu liên hoàn) chỉ dùng trong trường hợp đặc biệt cầu cứu, không nên dùng thường. Kiêng số chẵn.
Cách cắm 3 nén: cắm nén giữa (nén tâm) trước, rồi nén bên trái (nhìn từ trong ra – tức bên phải người lễ), rồi nén bên phải; cắm thẳng; dập lửa bằng cách phẩy tay, không thổi bằng miệng; hương tắt giữa chừng thì châm lại, không rút ra cắm lại; nếu không tiện dùng hai tay thì cắm bằng tay phải.
Thứ tự: “trọng thần khinh quỷ” – khấn/thắp Thần linh (Thổ công, Táo quân) trước, Gia tiên sau, bà cô ông mãnh cuối. Ở từ đường: bát hương thần linh giữa → gia tiên → bà cô ông mãnh. Trình tự lễ: bày lễ (“đông bình tây quả”, rượu, nước) → đốt đèn/nến → thắp hương → (đánh chuông nếu có) → khấn → vái/lạy.
Số lần vái, lạy: khấn xong thì vái. 2 lạy/2 vái: người mới mất chưa chôn (coi như còn sống), cô dâu chú rể lạy cha mẹ; 3 lạy/3 vái: lễ Phật (Phật–Pháp–Tăng), lời chào kính cẩn; 4 lạy/4 vái: cúng người quá cố (ông bà, cha mẹ, tổ tiên) và thánh thần – tứ thân phụ mẫu, bốn phương âm dương; 4 vái thay 4 lạy; 5 lạy/5 vái: lạy vua, giỗ Tổ Hùng Vương (ngũ hành, bốn phương + trung ương). Lịch ngày tốt (lễ Cát kỵ) ghi: khách đến lễ trước bàn thờ 4 lạy 3 vái, gia chủ đứng đáp lễ; lễ xong khách quay vái người đáp lễ. Sách VKCT ghi sau các bài khấn thường là “3 lần, 3 lạy” (lạy 3 lạy theo nghi Phật giáo phổ biến hiện nay).
Thế lạy: nam đứng nghiêm, chắp tay giơ ngang trán, cúi mình, quỳ gối trái rồi gối phải, cúi rạp đầu xuống hai tay, đứng lên bằng cách tì tay lên gối; nữ ngồi bệt chéo chân hoặc quỳ hai gối, chắp tay ngang trán cúi đầu sát chiếu.
Ai khấn: trưởng họ/trưởng chi (hoặc người được ủy quyền) đứng khấn; sau đó con cháu lần lượt theo thứ bậc từ trên xuống vào lễ (trừ trẻ nhỏ). Khấn rõ ngày tháng (âm lịch), địa chỉ, tên người khấn, lý do, tên người được giỗ (khấn nhỏ), lời cầu và lời hứa.
Trang phục, thái độ: tắm gội sạch, quần áo chỉnh tề, kín đáo, sáng màu ngày Tết; tuyệt đối không quần đùi, áo sát nách; tâm tịnh, không cãi vã; đứng cách bát hương vừa phải; phụ nữ trong kỳ kinh nguyệt theo tục kiêng bốc bát hương, bao sái.
Rót rượu ba tuần (tam tuần): theo nghi thức giỗ cổ truyền (lichngaytot – lễ Cát kỵ): suốt từ Tiên thường đến hết ngày giỗ bàn thờ luôn có hương; sau khi khấn, đợi hết ba tuần hương (mỗi tuần hương rót thêm một tuần rượu: sơ hiến – á hiến – chung hiến) rồi gia chủ lễ tạ, hóa văn khấn, hóa vàng, xin lộc hạ lễ, bày cỗ mời họ. Thanh minh ngoài mộ: đợi hết 2/3 tuần hương thì tạ lễ, hóa vàng. Mùng 1 Tết: hương tàn (vài tuần hương hoặc hết mùng 3) mới lễ tạ, hóa vàng.
Hạ lễ, hóa vàng: vái xin phép rồi hạ; hóa vàng mã ở nơi sạch (lò/đỉnh hóa vàng), hóa tiền vàng thần linh trước, gia tiên sau; tro thả sông hoặc vùi gốc cây; rượu/nước rảy lên tro; không giẫm lên tro; lộc chia đều con cháu. Hạn chế đốt nhiều vàng mã (VietNamNet Thanh minh).
Mùng 1, rằm (lễ Sóc, Vọng): lễ chay: hương, hoa tươi, trầu cau, quả chín, chén nước, tiền vàng; có thể thêm lễ mặn nhỏ (rượu, gà luộc, xôi). Chủ yếu “thành tâm kính lễ”.
Giỗ thường (Cát kỵ): hương, hoa, quả, phẩm oản, vàng mã, mâm mặn: xôi, gà luộc, các món cơm canh; tục xưa thủ lợn/thủ bò thờ Thổ công ngày giỗ; khách mang vàng hương, trầu rượu, trà, hoa quả. Giỗ trọng có lễ Tiên thường hôm trước (lễ cáo Thổ thần và cáo gia tiên: hương, hoa, quả, oản, tiền vàng, trầu, rượu, lễ mặn).
Giỗ Tổ họ: mâm mặn hoặc chay tùy lệ họ: gà/lợn quay hoặc gà luộc, xôi gấc, chả giò/giò lụa, nem, canh, rượu, nước; mâm ngũ quả, bánh kẹo, hoa cúc, trầu cau, hương đèn, vàng mã, phẩm oản, chè, nước ngọt. Quy ước họ Trần Hải Phúc quy định “cỗ lượt” 5 kg xôi, 1,2 kg gà luộc, 1,2 lít rượu, 1 thẻ hương/lệ (tham khảo).
Tất niên (30 Tết): mâm ngũ quả, hương hoa, giấy tiền vàng mã, đèn nến, trầu cau, rượu, trà, bánh chưng; cỗ mặn đủ món (gà, giò, nem, canh măng…).
Giao thừa ngoài trời: cỗ mặn cho thần: xôi, gà trống luộc, trầu cau, rượu, nước, hoa hồng, vàng mã, mũ áo thần linh; thêm bánh chưng, giò chả, gạo muối, bánh kẹo. Nhà thờ Phật có thể thêm mâm chay riêng cho Phật nhưng vẫn cần mâm mặn cho thần và gia tiên.
Mùng 1 Tết: hương, hoa, đèn, trà, quả; cỗ mặn: bánh chưng, giò, nem, gà luộc, canh măng, món xào; hoặc cỗ chay (xôi, chè, món chay); rượu/nước, tiền vàng, trầu cau. Kiêng sát sinh mùng 1 – gà làm sẵn từ chiều 29–30.
Hóa vàng mùng 3: cỗ mặn cuối cùng: gà, món luộc, xào, canh, miến, rượu, ngũ quả, bánh kẹo, trầu cau, vàng mã tiền âm đủ để tiễn tổ tiên.
23 tháng Chạp: hương hoa, phẩm luật, xiêm hài áo mũ (3 bộ), cá chép, cỗ mặn; cúng trước 12h trưa.
Rằm tháng Giêng: mâm cúng Phật (chay: hoa sen/cúc, trái cây, chè trôi nước, xôi gấc, món chay); mâm thần linh gia tiên (mặn): gà trống luộc, bánh chưng, xôi gấc, giò chả, nem, canh măng miến, món xào, hương hoa trầu cau rượu nến vàng mã.
Rằm tháng 7: trong nhà: mâm mặn/chay cúng thần linh và gia tiên (hương hoa trà quả, kim ngân); ngoài sân cúng chúng sinh: cháo loãng, gạo, muối, bỏng ngô, khoai, ngô, bánh kẹo, hoa quả, quần áo giấy nhiều màu, tiền vàng, nước, nến – bày ngoài cửa/sân, cúng chiều tối, hóa xong rải gạo muối.
Thanh minh/tạ mộ: hương đèn, trầu cau, tiền vàng, rượu, thịt (chân giò, gà luộc, giò), hoa quả; lễ thần linh nghĩa trang riêng (xôi, thịt luộc, vàng tiền) đặt tại ban thần linh nghĩa trang hoặc cạnh lễ gia tiên.
Động thổ: gà, xôi, hương, hoa quả, vàng mã (xưa tam sinh). Nhập trạch: trầu cau, hương, hoa, vàng mã, quả mùa, bánh kẹo, mâm mặn (rượu, thịt, xôi, gà); mang vào trước chiếu/đệm, bếp lửa, chổi, gạo, nước; đun nước pha trà khai bếp.
Bao sái cuối năm: 1 đĩa xôi, 1 miếng thịt luộc, 1 đĩa quả, ấm trà + 5 chén, 3 chén rượu, nước ngũ vị hương, rượu gừng.
Lễ vật kiêng dùng trên bàn thờ (tổng hợp từ các nguồn trên và VOH/VietNamNet): hoa giả, quả giả, quả nhựa; hoa có gai/mùi nồng/ý nghĩa xấu (hoa ly, hoa nhài, phong lan… tùy quan niệm), hoa héo; quả mọc sát đất, quả có gai (mít, sầu riêng), quả chín nẫu; đồ mặn tanh (cá mè, thịt chó, thịt mèo, vịt ngan tùy vùng) và đồ ăn thừa, đồ đã nếm; đồ đóng hộp/đồ mua sẵn không sạch; tiền thật đặt trên bàn thờ (nên cho vào hòm công đức); rượu/thuốc lá không nên bày cho thần linh, Phật; không dùng bát đĩa ăn hằng ngày làm đồ thờ; không đặt đồ cúng cô hồn vào trong nhà.
| Thời điểm (âm lịch) | Lễ | Ý nghĩa & việc làm tại từ đường |
|---|---|---|
| 23 tháng Chạp | Ông Công ông Táo | Tiễn Táo quân chầu trời; thường kết hợp bao sái, rút tỉa chân nhang sau khi cúng |
| 12–22 (có nơi 24–30) tháng Chạp | Chạp họ / chạp mộ / tạ mộ cuối năm | Con cháu về tề tựu, dọn dẹp mồ mả tổ, thắp hương mời tổ tiên về ăn Tết, lễ tại nhà thờ họ, họp bàn việc họ, đóng góp tu bổ từ đường, mừng thọ, khuyến học; ngày do các cụ định, thành lệ hằng năm (Bắc Ninh–Bắc Giang gọi “chạp họ”; nhiều nơi Thanh Hóa gọi “chạp mả”, “giỗ chạp”) |
| 30 tháng Chạp (chiều) | Tất niên | “Đông tàn sắp hết… sửa lễ tất niên”, mở cửa từ đường, mời tổ tiên về đón Tết |
| Giao thừa | Trừ tịch | Tống cựu nghênh tân; cúng quan Hành khiển ngoài trời, gia tiên trong nhà |
| Mùng 1 Tết | Chính đán | “Nghênh thái”, con cháu lễ tổ đầu năm; mùng 2 nhiều họ mừng thọ; mùng 3–5 hóa vàng tiễn tổ tiên; mùng 7 khai hạ |
| Rằm tháng Giêng | Tết Thượng nguyên (Nguyên tiêu) | “Lễ Phật quanh năm không bằng rằm tháng Giêng”; nhiều họ tổ chức lễ khai xuân, tế tổ đầu năm, khuyến học, công nhận đinh mới |
| Tiết Thanh minh (đầu tháng 3 âm, 4–5/4 DL; 2026 là 18/2 âm) | Tảo mộ | Sửa sang mộ phần, cúng thần linh và vong linh tại mộ, sau đó lễ gia tiên tại nhà |
| Ngày kỵ Thủy tổ (theo gia phả) | Giỗ Tổ họ / chi | Lễ lớn nhất trong năm; văn tế cáo yết Thủy tổ, hợp kỵ liệt tổ; cỗ lượt, họp họ, đọc quy ước, báo cáo quỹ |
| Rằm tháng 7 | Vu Lan – Xá tội vong nhân | Cúng thần linh, gia tiên trong nhà; cúng chúng sinh ngoài sân; nhiều họ có lệ 15/7 tại từ đường |
| Mùng 1, rằm hàng tháng | Lễ Sóc – Vọng | Thắp hương, lễ chay; trưởng họ/thủ từ đảm nhận |
| Các ngày giỗ ông bà từ đời 5 trở lên | Hợp kỵ tại từ đường | Theo tục, thờ riêng đến đời 4 (cha, ông, cụ, kỵ); từ đời 5 thờ chung tại nhà thờ họ, giỗ chung một lần/năm (VOH) |
Bố cục: viết chữ Hán (nay có thể chữ Quốc ngữ) theo cột dọc từ trên xuống. Cột giữa: vai vế + tước vị (nếu có) + họ tên (húy, tự, hiệu, thụy) + “phủ quân”/“nhụ nhân” + “chi linh vị” (hoặc “thần chủ”, “chi thần vị”). Hai cột bên nhỏ hơn: bên phải (của bài vị) ghi ngày sinh, bên trái ghi ngày mất (một số nguồn ghi ngược lại; thống nhất trong một họ là được). Lòng bài vị rộng 3–4 cm, khung cao thường 47/61/69 cm (thước Lỗ Ban).
Danh xưng theo đời (tính từ người chủ cúng):
Hậu tố: nam: “Phủ quân” (府君) hoặc “…Công” (ví dụ “Lê quý công húy…”), nữ: “Nhụ nhân” (孺人) hoặc “…Thị… chính thất/kế thất”. Ví dụ mẫu (dothobattrang.vn): “Lê triều Tứ trường Trung Thuận Tri huyện Doãn công húy… A tự… B, hiệu… C, thụy… D phủ quân chi linh vị”. Ví dụ cho họ Lê: “Hiển khảo Lê quý công húy Văn X tự Y hiệu Z phủ quân chi linh vị”; “Hiển tỷ Lê chính thất Nguyễn thị húy… hiệu Diệu … nhụ nhân chi linh vị”.
Tên húy – tự – hiệu – thụy: húy là tên chính khi sống (kiêng gọi sau khi mất); tự là tên chữ; hiệu là tên tự đặt/được đặt (nữ theo Phật thường có pháp danh “Diệu…”); thụy là tên đặt sau khi mất. Ghi đầy đủ theo thứ tự “húy… tự… hiệu… thụy…”; với bà ghi thêm họ tên chồng để nhận diện.
Quy tắc số chữ “Quỷ – Khốc – Linh – Thính”: đếm tổng số chữ trên cột giữa theo vòng Quỷ, Khốc, Linh, Thính; nam phải rơi vào chữ “Linh” (tổng chia 4 dư 3), nữ rơi vào “Thính” (chia hết cho 4); không được rơi vào Quỷ, Khốc. Điều chỉnh bằng cách thêm/bớt chữ “chi”, “quý”, “phủ quân”…
Lưu giữ: bài vị thờ 4 đời tại gia (“ngũ đại mai thần chủ”); đến đời thứ 5–6 thì hóa hoặc thiên di về nhà thờ họ thờ chung; khi người chủ cúng đổi, phải làm lại bài vị theo vai vế mới (hoặc không ghi vai vế để giữ được nhiều đời).
Sắp xếp: bài vị Thủy tổ ở khám/ngai giữa cao nhất; các đời sau thấp dần theo cấp; nam tả nữ hữu; tránh xếp một hàng ngang không phân vai vế; không đặt đối diện gương, dưới xà ngang.
Tảo mộ (Thanh minh, chạp mộ):
Trình tự: khấn thần linh, thổ địa nghĩa trang trước (đặt lễ tại ban thần linh nếu có), rồi khấn vong linh tại mộ; dọn cỏ, đắp đất, sửa các phía mộ, lấp vũng nước đọng quanh mộ; thắp hương cả mộ bên cạnh và mộ vô chủ; đợi 2/3 tuần hương, tạ lễ, hóa vàng; về nhà làm lễ gia tiên, gia thần.
Người đi: người cao tuổi thích hợp lo việc cúng khấn; không nên đi: phụ nữ có thai, người ốm, phụ nữ đang kỳ kinh, trẻ dưới 10 tuổi (theo tục); không đi quá sớm (sương) hay quá muộn (âm khí).
Kiêng: nô đùa, ngồi/giẫm lên mộ, xê dịch đồ cúng mộ khác, chụp ảnh tập thể quanh mộ, đi đường hẻo lánh, ăn đồ cúng tại nghĩa trang, làm quá linh đình, đốt nhiều vàng mã; về nhà nên hơ lửa/tắm nước gừng.
Với nghĩa trang có ban thần linh riêng: bày lễ hai nơi; tùy phong tục địa phương.
Bốc mộ – cải táng (sang cát):
Thời điểm: thường sau 3 năm (có nơi 4–5 năm) hung táng, chọn cuối năm (từ tháng 9–10 đến trước tiết Xuân phân/Thanh minh), tránh năm xung tuổi trưởng nam và người mất, tránh “trùng tang”; làm ban đêm/rạng sáng, chọn ngày giờ hoàng đạo.
Trình tự: cúng cáo gia tiên tại nhà → lễ cáo Long mạch, Sơn thần, Thổ thần nơi mộ cũ → mở mộ, rửa xương bằng rượu/nước ngũ vị, xếp vào tiểu sành theo thứ tự → lễ cáo Thổ thần nơi mộ mới → hạ tiểu, xây mộ → lễ Ngu tế/tạ mộ khấn vong linh (“Phần mộ dời xong, lễ Ngu kính tế”) → về nhà lễ tạ gia tiên, sau đó báo cáo họ để ghi vào phả/“phú úy” (Quy ước họ Trần).
Kiêng: gặp “mộ kết” (mối đùn, thủy tụ, dây tơ hồng quấn) thì không cải táng, làm lễ tạ mộ kết; không để ánh mặt trời chiếu vào hài cốt (che bạt); người có tang khác, phụ nữ có thai không tham dự; không bỏ sót xương; không cải táng khi trong nhà đang có việc hiếu hỉ lớn; sau khi động mộ cần hoàn long mạch (mục 11d) nếu phạm.
Vai trò trưởng họ (tộc trưởng) / trưởng chi: là con trưởng dòng đích, người “đứng đầu chịu trách nhiệm chính đối với họ tộc”; giữ hương hỏa, chủ tế các lệ, giữ gia phả, chủ trì họp họ; được ủy quyền chi thường xuyên đến một mức nhất định (họ Trần: không quá 1.000.000 đ/lần), quá mức phải thông qua Ban thường trực. Thủ từ trông coi từ đường, mở cửa cho con cháu lễ.
Hội đồng gia tộc (Ban thường trực/Ban liên lạc): gồm Chủ tịch HĐGT (hoặc trưởng họ), các trưởng chi/ngành, người cao niên, người có uy tín, thư ký – kế toán, thủ quỹ, thủ từ, phụ trách khuyến học; do Đại hội họ bầu (họ Trần: 5 năm/lần, 11 người, làm việc dân chủ tập trung); có quyền triệu tập đại họ, quyết định sử dụng đất từ đường, quỹ họ, xây sửa từ đường, lăng mộ, tổ chức lễ tổ hằng năm; quyết định lớn (đóng góp, bầu bãi miễn, sửa quy ước) phải được đại đa số đinh họ biểu quyết.
Quỹ họ: nguồn thu: đóng góp theo đinh, tiến cúng, lãi gửi/cho vay, nguồn khác; chi: tu sửa từ đường – lăng mộ, đồ thờ, hương đăng tuần tiết, thăm hỏi ốm đau, phúng viếng, khuyến học, tiếp khách; nguyên tắc “bộ ba” trưởng họ – kế toán – thủ quỹ; công khai quyết toán trước họ vào lệ tổ; thất thoát phải bồi thường; ghi sổ vàng công đức và bia đá cho người tiến cúng từ mức nhất định.
Mẫu điều khoản cơ bản của Quy ước (tộc ước) chi họ:
Lưu ý pháp lý: quy ước dòng họ là thỏa thuận tự nguyện, không trái pháp luật (Luật Hôn nhân & Gia đình, Luật Đất đai, Luật Tín ngưỡng tôn giáo); đất từ đường có thể đăng ký “đất tín ngưỡng” do cộng đồng dân cư/dòng họ sử dụng.
Thời điểm: quan trọng nhất là dịp sau lễ ông Táo 23 tháng Chạp đến trước 30 Tết (khi Táo quân vắng mặt); chọn ngày giờ hoàng đạo hợp tuổi trưởng họ; hàng tháng có thể lau dọn nhẹ trước mùng 1/rằm nhưng không xê dịch bát hương. Bao sái là việc nên làm, không phải kiêng kỵ (phatgiao.org.vn).
Chuẩn bị: người làm tắm gội, ăn mặc sạch sẽ (thường trưởng họ/thủ từ, nam giới; phụ nữ tránh ngày kinh nguyệt theo tục); khăn mới, chổi chuyên dụng, nước sạch ấm, nước ngũ vị hương (hồi, quế + 3 trong các loại: sả, hương nhu, trầu không, lá bưởi, lá nếp, mùi già) và rượu gừng; mâm lễ nhỏ (xôi, thịt luộc, quả, trà 5 chén, rượu 3 chén); văn khấn xin phép.
Trình tự:
Kiêng kỵ: không dùng nước lã lạnh/khăn bẩn, khăn dùng chung việc khác; không làm đổ vỡ đồ thờ (vỡ phải thay và cáo); không mở toang cửa phòng thờ khi lau dọn (tránh “Dương quang sát”); không lau bát hương gia tiên trước thần linh; không tự ý thay bát hương khi chưa hỏng (chỉ thay khi nứt vỡ, chuyển nhà, gỉ đồng); không đặt tấm kính phản chiếu trên bàn thờ gỗ (nếu đặt kính chống cháy phải dán đề can mờ); không bao sái vào giờ xấu, ban đêm; không nói tục, cãi vã trong lúc dọn; không dùng bàn thờ mối mọt, cong vênh – phải thay mới và làm lễ an vị.
Thời gian: 24/12/2025
Album chưa có ảnh — ban quản trị sẽ bổ sung.
Thời gian: 05/11/2025
Album chưa có ảnh — ban quản trị sẽ bổ sung.
Thời gian: 26/10/2025
Album chưa có ảnh — ban quản trị sẽ bổ sung.
Thời gian: 07/09/2025
Album chưa có ảnh — ban quản trị sẽ bổ sung.
Thời gian: 11/05/2025
Album chưa có ảnh — ban quản trị sẽ bổ sung.
Thời gian: 13/10/2024
Album chưa có ảnh — ban quản trị sẽ bổ sung.
Thời gian: 12/08/2024
Album chưa có ảnh — ban quản trị sẽ bổ sung.
Thời gian: 05/11/2023
Album chưa có ảnh — ban quản trị sẽ bổ sung.
Thời gian: 01/09/2023
Album chưa có ảnh — ban quản trị sẽ bổ sung.
Lần tới (dương lịch): 25/10/2026
Âm lịch: 16/9/2026
Địa điểm: Từ Đường Chi Lê Tộc, Làng Phấn Thôn, Xã Xuân Hòa, Thanh Hóa
Loại: Giỗ (húy nhật)
Lặp lại: Hàng năm
Lần tới (dương lịch): 17/08/2027
Âm lịch: 16/7/2026
Địa điểm: Từ Đường Chi Lê Tộc, Làng Phấn Thôn, Xã Xuân Hòa, Thanh Hóa
Loại: Giỗ (húy nhật)
Lặp lại: Hàng năm
Lần tới (dương lịch): 19/05/2027
Âm lịch: 14/4/2026
Địa điểm: Làng Phấn Thôn, xã Xuân Hòa, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam
Loại: Giỗ (húy nhật)
Lặp lại: Hàng năm
Lần tới (dương lịch): 13/12/2026
Âm lịch: 5/11/2025
Địa điểm: Từ Đường Chi Lê Tộc, Làng Phấn Thôn, Xã Xuân Hòa, Thanh Hóa
Loại: Giỗ (húy nhật)
Lặp lại: Hàng năm
Lần tới (dương lịch): 12/12/2026
Âm lịch: 4/11/2026
Địa điểm: Từ đường chi Lê tộc & khu mộ chi Lê tộc, làng Phấn Thôn, xã Xuân Hòa, Thanh Hóa
Loại: Động thổ
Lặp lại: Một lần
Tập trung 6h30 tại từ đường; lễ cáo yết gia tiên giờ Thìn (7h) → rước cành phan ra mộ → lễ động thổ, quy hồn nhập mộ cho bà cố Lê Thị Hảo → khởi công lắp quách, bia (ông bà kỵ, ông cố đã hoàn thiện) → dâng hương cả 4 ngôi → rước về từ đường → thụ lộc. Thi công dự kiến 12–19/12. Hôm sau 13/12 (5/11 ÂL) giỗ bà kỵ Nguyễn Thị Lênh. Đăng ký tham dự với Lê Kim Cương trước 20/11/2026.
Lần tới (dương lịch): 24/12/2026
Âm lịch: 16/11/2026
Địa điểm: Khu mộ chi Lê tộc, nghĩa trang làng Phấn Thôn, xã Xuân Hòa, Thanh Hóa
Loại: Tảo mộ
Lặp lại: Một lần
Giờ Thìn 7h–9h. Lễ tạ Thần linh – Thổ địa, an vị bia, báo cáo gia tiên việc hoàn thiện đã xong; bác Lê Sỹ Hùng chủ lễ cùng con cháu ở quê. Có thể dời sang 05/01/2027 hoặc gộp chạp mộ tùy tiến độ thi công.